- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228 /2023/HS-ST Ngày: 16-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành
2. Bà Ngô Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng D, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/11/1968 tại TH; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông Nguyễn Trọng L, sinh năm 1927 và con bà Đặng Thị L1 (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T (tên gọi khác là N), sinh năm 1971; có 01 con sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: 02.
+ Tại bản án số 129/HSPT ngày 16/10/1998 Tòa án nhân dân tỉnh TH xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2000. Ngày 24/02/2017 Chi cục Thi hành án thành phố TH ra Quyết định chỉ thi hành án các khoản tiền phải thi hành.
+ Tại bản án số 143/HSST ngày 26/11/2008 Tòa án nhân dân tỉnh TH xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/5/2014. Nộp tiền án phí ngày 17/3/2009. Ngày 13/6/2014, đình chỉ thi hành khoản tiền phạt theo Quyết định số 15/QĐ – CTHA của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh TH.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH. Bị cáo bị bắt từ ngày 09/4/2023 cho đến nay (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1996 – trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH (Có mặt)
* Người chứng kiến: Anh Lương Quốc H, sinh năm 1984, trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH, (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 15 phút ngày 09/4/2023, tổ công tác Công an phường Đ, thành phố TH đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố Đ của phường thì phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B1 -94x.xx có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Nguyễn Trọng D và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 túi nilon màu đen bên trong có một túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng hồng và 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 túi nilon màu trắng gồm: 01 túi chứa 02 viên nén màu hồng và 01 túi chứa cục chất bột màu trắng (D khai là Heroine và hồng phiến) D vừa mua để sử dụng giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, BKS 20B1 -94x.xx, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D tại TDP Đ, phường Đ nhưng không phát hiện, thu giữ gì.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH phối hợp với phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH tiến hành mở niêm phong cân xác định:
+ Toàn bộ số chất bột màu trắng hồng thu giữ của D có khối lượng 0,793 gam, lấy toàn bộ cho vào 01 phong bì niêm phong ký hiệu D gửi giám định.
+ Toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của D có khối lượng 7,584 gam, lấy toàn bộ cho vào 01 phong bì niêm phong ký hiệu D1 gửi giám định.
+ Toàn bộ số viên nén màu hồng thu giữ của D có khối lượng 0,189 gam, lấy toàn bộ cho vào 01 phong bì niêm phong ký hiệu D2 gửi giám định.
* Kết luận giám định số 597/KL - KTHS ngày 18/4/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH kết luận:
+ Chất bột màu trắng hồng gửi giám định trong bì niêm phong ký hiệu D là chất ma túy; loại Methamphetamine và Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,793 gam.
+ Chất bột màu trắng gửi giám định trong bì niêm phong ký hiệu D1 là chất ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng thu giữ ban đầu là 7,584 gam.
+ Các viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu D2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,189 gam.
Tại cơ quan điều tra, lời khai nhận của D phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến.
Vật chứng của vụ án:
+ 04 (bốn) bì niêm phong ký hiệu D, D1, D2, D3;
+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu D4 bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1 - 94x.xx, đã qua sử dụng. Hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Tân quản lý và sử dụng.
Cáo trạng số 219/CT-VKSTPTN ngày 20/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố bị cáo D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
+ Bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 09/4/2023, D điều khiển xe mô tô BKS 20B1 -94x.xx đi từ nhà đến khu vực sau Trung tâm thương mại Vincom thuộc phường Quang Trung, thành phố TH mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 túi nilon màu đen bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng hồng và 01 túi nilon màu đen bên trong chứa 02 túi nilon màu trắng gồm 01 túi chứa 02 viên nén màu hồng, 01 túi chứa cục chất bột màu trắng với số tiền 7.000.000 đồng. Mua xong, D cất gói ma túy trên vào túi quần phía trước bên phải đang mặc của mình rồi đi tìm nơi sử dụng thì tổ công tác Công an phường Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Trọng T trình bày: Anh là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1 -94x.xx, đã qua sử dụng. Ngày 09/4/2023, bố anh (Nguyễn Trọng D) lấy xe để đi, anh không biết. Hiện cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh quản lý và sử dụng, anh không có ý kiến gì khác.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo D từ 06 đến 07 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng của vụ án:
+ Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) bì niêm phong ký hiệu D, D1, D2, D3;
+ Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1 - 94x.xx, đã qua sử dụng. Hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T quản lý và sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 17 giờ 15 phút ngày 09/4/2023, tại khu vực tổ dân phố Đ, thành phố TH, Nguyễn Trọng D đang có hành vi tàng trữ 7,584 gam ma túy, loại Heroine; 0,189 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,793 gam ma túy loại hỗn hợp Methamphetamine và Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường Đ, thành phố TH phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS.
Nội dung điều luật:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a,b...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
n, Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ e đến điểm m khoản này”
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, mà còn làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội, cần lên mức án nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, bị cáo có thể bị phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản, mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
+ Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) bì niêm phong ký hiệu D, D1, D2, D3;
+ Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
+ 01 (một ) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1 - 94x.xx, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Trọng T, khi bị cáo lấy xe đi mua ma túy anh T không biết nên cơ quan điều tra Công an thành phố TH đã trả lại cho anh T quản lý và sử dụng.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác:
+ Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Đối với anh Nguyễn Trọng T là người cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô BKS 20B1 -94x.xx. Quá trình điều tra xác định anh T không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2023.
Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu D bì niêm phong chứa 0,696 gam mẫu D và vỏ bao mẫu D; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu D1 bên trong chứa 7,571 gam mẫu D1 và vỏ bao mẫu D1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu D2 bên trong chứa 0,089 gam mẫu D2 và vỏ bao mẫu D2; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu D3 bên trong chứa bì ban đầu.
3.2. Tạm giữ 01(một) bì D4 bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, số Imei 1: 868286051631075, số Imei 2: 868289051631067 điện thoại cũ, đã qua sử dụng của bị cáo D để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 395 ngày 10/8/2023 giữa Công an thành phố TH và Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH, tỉnh TH).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TH; - VKSND tỉnh TH; - VKSND thành phố TH; - Công an thành phố TH; - Chi cục THADS thành phố TH; - Sở tư pháp tỉnh TH; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thanh Trúc |