vanban.org

Bản án 228/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị số: 71/QĐ-VKSLVg ngày 05/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, sửa một phần bản án s thẩm, không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự; tăng nặng hình phạt tù đối bị cáo Nguyễn Thị T về hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Minh T1 và kháng cáo xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam gữ của bị cáo Lê Hiền S, giữ nguyên Quyết định của bản án s thẩm về hình phạt đối v i các bị cáo Lê Minh T1 và Lê Hiền S. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết p các tội “Đánh bạc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị T và các đồng phạm, phạm tối đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị số: 71/QĐ-VKSLVg ngày 05/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, sửa một phần bản án s thẩm, không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự; tăng nặng hình phạt tù đối bị cáo Nguyễn Thị T về hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2023/HS-PT
Ngày: 31-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

Ông Phạm Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 135/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối v i bị cáo Nguyễn Thị T và các đ ng phạm. Do có Khánh nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung và kháng cáo của bị cáo Lê Minh T1, Lê Hiền S đối v i Bản án hình sự s thẩm số: 15/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.

- cáo b kháng ngh : Nguyễn Thị T, sinh năm: 1956, tại t nh Đ ng Tháp; N i cư trú: 590A/1, ấp T, xã P, huyện L, t nh Đ ng Tháp; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị M (chết); Có ch ng (đã chết) và 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 11/5/2020, bị Công an xã P, huyện L ra Quyết định số 60/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đ ng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt vào ngày 13/5/2020; Nhân thân: Ngày 26/3/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Th xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/4/2014, đã xóa án tích; Không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi n i cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại: ấp T, xã P, huyện L, t nh Đ ng Tháp; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T: Ông Hà Văn N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nư c t nh Đ, Chi nhánh S2; Địa ch : D đường N, Khóm E, Phường A, thành phố S, t nh Đ ng Tháp (có mặt).

- cáo c kháng cáo:

1. Lê Minh T1, sinh năm: 1993, tại Đ ng Tháp; Tên gọi khác: T2; N i cư trú: 242/3, ấp Đ, xã Đ, huyện L, t nh Đ ng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D (chết) và bà Huỳnh Mỹ M1; Có vợ và 02 người con; Tiền án: Ngày 14/11/2019, bị Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/8/2020, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi n i cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại: ấp Đ, xã Đ, huyện L, t nh Đ ng Tháp; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Lê Hiền S, sinh năm: 1968, tại Đ ng Tháp; Tên gọi khác: N4; N i cư trú: 59A/3, ấp Đ, xã Đ, huyện L, t nh Đ ng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê H ng C (chết) và bà Nguyễn Thị G (chết); Có vợ và 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 01/9/2020, bị Công an xã Đ, huyện L ra Quyết định số 09/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đ ng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt vào ngày 05/10/2020; Không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi n i cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại: ấp Đ, xã Đ, huyện L, t nh Đ ng Tháp; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn c các b cáo Huỳnh Văn L và người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u c trong h sơ vụ án và di n bi n t i phiên tòa n i dung vụ án ược t m t t như sau:

Vào lúc 23 giờ 25 phút ngày 08/4/2021, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang Nguyễn Thị T, Lê Minh T1, Huỳnh Văn L, Nguyễn Thị C1, Lâm Quốc T3, Đoàn Hữu A, Lê Văn V, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị H1, Hoàng Vũ Văn T4, Đoàn Trung G1, Đoàn Thị Mỹ H2 và Ngô Bé N1 đang tham gia đánh bạc và liên quan đến việc đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức lắc tài x u tại nhà số E, ấp T, xã P, huyện L, t nh Đ ng Tháp do T đứng tên chủ sở hữu.

- C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ vật chứng, tài sản g m:

+ Trên chiếu bạc: 06 lá bài tây của Nguyễn Thị T; 03 hột xí ngầu, 01 cái chén bằng sành, 01 nắp nhựa màu đen và tiền Việt Nam 1.100.000 đ ng của Lê Minh T1.

+ Tiền Việt Nam trên người của Lê Minh T1 1.400.000 đ ng; Huỳnh Văn L 9.650.000 đ ng; Nguyễn Thị C1 700.000 đ ng; Lê Văn V 29.400.0000 đ ng và Nguyễn Thị H1 5.000.000 đ ng. Tổng cộng là 46.150.000 đ ng.

+ 01 điện thoại di động màu xám của Lâm Quốc T3; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu gold của Đoàn Hữu A và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh của Nguyễn Thị L1.

Kết quả điều tra đã xác định được: Tại địa điểm nêu trên không có người đứng ra tổ chức đánh bạc, những người tham gia đánh bạc tự đi đến nhà của bà T. Sau đó, bà T cho những người này mượn địa điểm để đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức là ch i lắc tài x u. Nếu 03 hột xí ngầu có tổng số nút từ 04 đến 10 là x u, từ 11 đến 17 nút là tài và khi người cầm cái (người lắc) lắc được ván bão (03 mặt xí ngầu có số nút giống nhau) sẽ thắng hết cả bên tài và x u. Bà T không tham gia đánh bạc nhưng thỏa thuận v i những người ch i, bà T sẽ lấy tiền xâu của người cầm cái, bằng hình thức chia đôi số tiền thắng cược, mỗi khi người cầm cái lắc được ván bão. Ngày 08/4/2021, Lê Minh T1 tham gia v i vai trò là người cầm cái; 07 người còn lại g m L, C1, T3, A, V, L1 và H1 tham gia v i vai trò là những người đặt cược. Tuyến quy định, mỗi ván từng người tham gia có quyền lựa chọn đặt cược bên tài hoặc bên x u, cược ít nhất là 20.000 đ ng, cao nhất là 100.000 đ ng nhưng không quá 400.000 đ ng/ván để trực tiếp ăn thua v i T1.

Trư c khi bị bắt quả tang, số tiền mà Lê Minh T1, Huỳnh Văn L, Nguyễn Thị C1, Lâm Quốc T3, Đoàn Hữu A, Lê Văn V, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Thị H1 đem theo trong người đến nhà bà T và ch sử dụng vào việc đánh bạc, như sau:

- T1 đem theo 2.100.000 đ ng, ch sử dụng 700.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 1.400.000 đ ng cất giữ trong người, T1 cầm cái lắc được khoảng 15 ván. Trong đó, có 03 ván bão, thắng được 900.000 đ ng nên đã trả tiền xâu cho T 450.000 đ ng. Đến khi bị bắt quả tang thì T1 thắng được 400.000 đ ng, tạm giữ trư c vị trí T1 đang ng i đánh bạc 1.100.000 đ ng và trên người của Tuyến 1.400.000 đ ng.

- Lắm đem theo 10.050.000 đ ng, ch sử dụng 400.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 9.650.000 đ ng cất giữ trong người. Lắm tham gia đặt cược được khoảng 05 đến 06 ván, mỗi ván 50.000 đ ng, kết quả thua 400.000 đ ng. Đến khi bị bắt quả tang, tạm giữ trên người của Lắm số tiền 9.650.000 đ ng.

- C1 đem theo 1.000.000 đ ng, ch sử dụng 300.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 700.000 đ ng cất giữ trong người. Chi đặt cược được khoảng 05 đến 06 ván, mỗi ván 50.000 đ ng, kết quả thua 300.000 đ ng. Đến khi bị bắt quả tang, tạm giữ trên người của Chi số tiền 700.0000 đ ng.

- Vịnh đem theo 29.600.0000 đ ng, ch sử dụng 200.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 29.400.000 đ ng cất giữ trong người. Vịnh đặt cược 02 ván, mỗi ván 100.000 đ ng, kết quả thua 200.000 đ ng. Khi bị bắt quả tang, tạm giữ trên người của Vịnh số tiền 29.400.0000 đ ng.

- H1 đem theo 4.900.000 đ ng, ch sử dụng 400.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 4.500.000 đ ng cất giữ trong người. H1 đặt cược được khoảng 05 ván, mỗi ván từ 30.000 đ ng đến 50.000 đ ng, kết quả thắng 100.000 đ ng. Đến khi bị bắt quả tang, H1 lấy 100.000 đ ng thắng cược để chung vào số tiền 4.900.000 đ ng, nên tạm giữ trên người của H1 là 5.000.000 đ ng.

- Quốc T3, A và L1 mỗi người đem theo khoảng 100.000 đ ng đến 200.000 đ ng, cả 03 người đặt cược từ 02 đến 05 ván, mỗi ván từ 20.000 đ ng đến 50.000 đ ng. Đến khi bị bắt quả tang, Quốc T3 thua 200.000 đ ng, A huề vốn, còn L1 thì thua 150.000 đ ng.

Riêng Hoàng Vũ Văn T4, Đoàn Trung G1, Đoàn Thị Mỹ H2 và Ngô Bé N1 có mặt tại thời điểm Công an bắt quả tang, nhưng không tham gia đánh bạc.

Trong thời gian C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đang thụ lý ngu n tin tội phạm nêu trên để kiểm tra, xác minh giải quyết theo quy định. Khoảng 12 giờ ngày 06/5/2021, bà T tiếp tục sử dụng nhà của mình để cùng v i L, Phạm Minh C2, Trần Thanh T5, Nguyễn Vĩnh N2 và Nguyễn Phú Q đánh bạc (lắc tài x u) và trực tiếp ăn thua bằng tiền v i Lê Hiền S và T1 (những người cầm cái) và để lấy tiền xâu. Riêng Phạm Văn T6, Trần Thanh M2 và Bùi Thanh N3 có mặt tại nhà bà T nhưng không tham gia đánh bạc. Hình thức bà T lấy tiền xâu cũng tư ng tự như lần đánh bạc vào ngày 08/4/2021. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang.

- C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tạm giữ vật chứng, tài sản g m:

+ Trên chiếu bạc: 03 hột xí ngầu của Lê Minh T1; 48 lá bài tây của Nguyễn Thị T và tiền Việt Nam 200.000 đ ng.

+ Gần khu vực chiếu bạc: 06 bộ bài của Nguyễn Thị T; 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau màu xám có chữ Nokia trên bàn xi măng trong nhà của anh Đoàn Trung C3 (con ruột của T).

+ Tiền Việt Nam và tài sản trên người của Nguyễn Thị T 4.100.000 đ ng; Lê Hiền S 2.600.000 đ ng và 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau màu xám có chữ N5; Lê Minh T1 1.700.000 đ ng; Huỳnh Văn L 2.200.000 đ ng; Phạm Minh C2 1.600.000 đ ng và 01 điện thoại di động màu đen có chữ Oppo; Nguyễn Vĩnh N2 3.500.000 đ ng và 01 điện thoại di động màu đen có chữ N5; Trần Thanh T5 1.700.000 đ ng, Nguyễn Phú Q 300.000 đ ng, Phạm Văn T6 30.000 đ ng, Trần Thanh M2 5.400.000 đ ng; Bùi Thanh N3 1.400.000 đ ng và 01 điện thoại di động màu xanh có chữ Nokia.

Trư c khi bị bắt quả tang ngày 06/5/2021, số tiền S, T1, L và những người tham gia đánh bạc đem theo trong người đến nhà T và ch sử dụng vào việc đánh bạc, như sau:

- Tuyết cất giữ trong người 4.400.000 đ ng, ch sử dụng 300.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 4.100.000 đ ng không dùng vào việc đánh bạc. T không nh rõ đặt cược bao nhiêu ván, mỗi ván từ 20.000 đ ng đến 50.000 đ ng. Kết quả, T thua 300.000 đ ng, do S và T1 cầm cái không có ván nào bão nên T chưa có nhận được tiền xâu. Khi bắt quả tang, tạm giữ trên người của Tuyết 4.100.0000 đ ng.

- S đem theo 3.000.00 đ ng, ch sử dụng 400.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 2.600.000 đ ng cất giữ trong người. S cầm cái lắc được khoảng 06 ván, không có ván nào bão và thua 400.000 đ ng nên không tham gia nữa mà ra bên ngoài gần khu vực đánh bạc để nằm võng. Khi bắt quả tang, tạm giữ trên người của Sĩ 2.600.0000 đ ng.

- Tuyến đem theo 2.200.000 đ ng, ch sử dụng 700.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 1.500.000 đ ng cất giữ trong người. Khi đến nhà T, thời điểm này S đang cầm cái, thấy S ngh và đi ra bên ngoài nên T1 đi vào cầm cái. Tuyến lắc được khoảng 05 ván, không có ván nào bão, kết quả T1 thua 500.000 đ ng. Khi bị bắt quả tang, T1 lấy 200.000 đ ng còn lại để chung vào số tiền 1.500.000 đ ng, nên tạm giữ trên người của T1 là 1.700.0000 đ ng.

- Lắm đem theo 2.400.000 đ ng, ch sử dụng 300.000 đ ng để đánh bạc, còn lại 2.100.000 đ ng cất giữ trong người. Lắm tham gia đặt cược khoảng 04 đến 05 ván, mỗi ván 50.000 đ ng, kết quả thua 200.000 đ ng. Khi bị bắt quả tang, L lấy 100.000 đ ng còn lại để chung vào số tiền 2.100.000 đ ng, nên tạm giữ trên người của Lắm là 2.200.0000 đ ng.

- Phạm Minh C2, Trần Thanh T5, Nguyễn Vĩnh N2 và Nguyễn Phú Q, mỗi người đem theo trong người dư i 5.000.000 đ ng và từng người đặt cược từ 02 ván đến 05 ván, mỗi ván từ 30.000 đ ng đến 50.000 đ ng. Đến khi bị bắt quả tang, C2 thua 100.000 đ ng, T5 thua 300.000 đ ng, N2 thua 50.000 đ ng, còn Q thua 100.000 đ ng.

Đối v i Lê Hiền S ngày 01/9/2020, đã bị Công an xã Đ, huyện L xử phạt vi phạm hành chính, v i số tiền 1.500.000 đ ng về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Sau khi bị bắt quả tang ngày 06/5/2021 tại nhà T, đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/12/2021, S tiếp tục đến nhà của Nguyễn Thanh Tuyền E, tọa lạc số 72B/1, ấp T, xã P, huyện L tham gia đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức lắc bầu cua. Sĩ tham gia v i vai trò là người đặt cược, đặt được khoảng 06 ván, mỗi ván 20.000 đ ng thì bị Công an huyện L bắt quả tang và thu trên chiếu bạc 1.395.000 đ ng.

Tại Bản án hình sự s thẩm số: 15/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) tháng tù.

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Gá bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù.

- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” mà bị cáo Nguyễn Thị T phải chấp hành là 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung đối v i bị cáo Lê Minh T1 số tiền 10.000.000 đ ng (mười triệu đ ng).

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Lê Hiền S phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Lê Hiền S 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án s thẩm còn tuyên phạt bị cáo Huỳnh Văn L 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, t nh Đ ng Tháp có Quyết định kháng nghị số: 71/QĐ-VKSLVg v i nội dung, đề nghị sửa một phần án s thẩm, không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự về hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”; tăng nặng hình phạt tù đối bị cáo Nguyễn Thị Tuyết .

Ngày 03 tháng 4 năm 2023, bị cáo Lê Minh T1 có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Lê Hiền S có đ n kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hiền S bổ sung kháng cáo xin được cải tại không giam giữ hoặc được hưởng án treo.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T bị Tòa án cấp s thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 321 và điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Minh T1, Lê Hiền S bị Tòa án cấp s thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử s thẩm, bị cáo Lê Minh T1 có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo không có cấp được tình tiết nào m i ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án s thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh T7. Giữ nguyên quyết định của bản án s thẩm về phần hình phạt đối v i bị cáo T1.

Bị cáo Lê Hiền S có đ n kháng cáo xin được hưởng án treo, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo S bổ sung kháng cáo xin được cải tại không giam giữ có cung cấp giấy ra viện và kết quả chụp MRI bị cáo bị bệnh tai biến mạch máu não. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp s thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hiền S. Sửa quyết định của bản án s thẩm về phần hình phạt đối v i bị cáo S, áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo S 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Riêng bị cáo Nguyễn Thị T không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, vì bị cáo ch có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối v i hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”, tăng hình phạt đối v i bị cáo T tội “Đánh bạc” 06 tháng tù, tội và “Gá bạc” 01 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T phát biểu quan điểm không thống nhất v i kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung. Bởi lẽ, hiện không có quy định nào về việc không cho áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự ở hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”. Đ ng thời, đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên tòa s , phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là người cao tuổi, bị nhiều bệnh trong đó có bệnh hiểm nghèo. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo lại phải nuôi hai đứa cháu đang đi học; số tiền thu lợi bất chính không l n. Xin Hội đ ng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận mà ch xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong h s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Hiền S, Lê Minh T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp v i lời khai của bị cáo tại c quan điều tra cũng như tại phiên tòa s thẩm, phù hợp v i lời khai của các bị cáo đ ng phạm, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các chứng cứ trong h s vụ án, đủ c sở để xác định: Trong các ngày 08/4/2021 và 06/5/2021, bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi sử dụng căn nhà số E, ấp T, xã P, huyện L do bị cáo T làm chủ sở hữu để làm địa điểm cho các bị cáo Lê Minh T1, Lê Hiền S, Huỳnh Văn L cùng một số người khác tham gia đánh bạc được thua bằng tiền nhằm mục đích lấy tiền xâu, thu lợi bất chính được 450.000 đ ng và 01 lần bị cáo T trực tiếp tham gia đánh bạc vào ngày 06/5/2021. Số tiền thu trên chiếu bạc vào ngày 08/4/2021 là 1.100.000 đ ng, vào ngày 06/5/2021 là 200.000 đ ng.

Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Hiền S, Lê Minh T1 tham gia đánh bạc bằng hình lắc tài xỉu được thua bằng tiền như đã nêu trên. Số tiền thu trên chiếc bạc vào ngày 08/4/2021 là 1.100.000 đ ng, vào ngày 06/5/2021 là 200.000 đ ng. Bị cáo Nguyễn Thị T và Lê HIền S1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng chưa hết thời hạn để các bị cáo được xem là chưa có tiền sự mà tiế tục vi phạm, bị cáo Lê Minh T1 chưa được xóa án tích về tội đánh bạc. Do đó, đã đủ c sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321; điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lê Hiền S, Lê Minh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp s thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Hiền S, Lê Minh T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321; điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà án s thẩm đã tuyên đối v i bị cáo Lê Hiền S, Lê Minh T1 là hoàn toàn phù hợp v i tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra và đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối v i các bị cáo. Sau khi xét xử s thẩm, bị cáo Lê Minh T1 có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo T1 không có cấp được tình tiết nào m i ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án s thẩm đã áp dụng cho bị cáo; bị cáo Lê Hiền S kháng cáo xin hưởng án treo hoặc được cải tạo không giam giữ, có cung cấp giấy ra viện và kết quả chụp MRI bị cáo bị bệnh tai biến mạch máu não. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp s thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên án s thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự và áp dụng hình phạt dư i mức thấp nhất của khung hình phạt đối v i bị cáo S là đã có cân nhắc xem xét, chiếu cố đối v i bị cáo. Do đó, Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Minh T1 và Lê Hiền S. Giữ nguyên quyết định của bản án s thẩm về phần hình phạt đối v i hai bị cáo Lê Minh T1 và Lê Hiền S.

Riêng bị cáo Nguyễn Thị T, án s thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự ở hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” đối v i bị cáo là chưa phù hợp. Bởi lẽ, bị cáo ch có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự theo luật định. Do đó, Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo T đối v i hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” và tăng hình phạt đối v i bị cáo T.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối v i các bị cáo Lê Minh T1, Nguyễn Thị T là hoàn toàn phù hợp nên chấp nhận. Riêng phần đề nghị đối v i bị cáo Lê Hiền S là chưa phù hợp như Hội đ ng xét xử đã nhận định ở phần trên nên không chấp nhận.

Xét lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo T là không có căn cứ như Hội đ ng xét xử đã nhận định ở phần trên nên không chấp nhận.

Do kháng cáo của các bị cáo Lê Hiền S, Lê Minh T1 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Bị cáo Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng nghị số: 71/QĐ-VKSLVg ngày 05/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, sửa một phần bản án s thẩm, không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự; tăng nặng hình phạt tù đối bị cáo Nguyễn Thị T về hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Minh T1 và kháng cáo xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam gữ của bị cáo Lê Hiền S, giữ nguyên Quyết định của bản án s thẩm về hình phạt đối v i các bị cáo Lê Minh T1 và Lê Hiền S.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết p các tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”; các bị cáo Lê Minh T1, Lê Hiền S cùng phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” và 01 (một) năm tù về tội “Gá bạc”.

Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”, buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chấp hành là 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Hiền S 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Lê Hiền S, Lê Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ