vanban.org

Bản án 228/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lý Văn C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 26 do Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, cấp ngày 22 tháng 10 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Lý Văn C không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật. Về con chung: Giao cháu Lý Minh K, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2022 cho chị Nguyễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số: 228/2023/HNGĐ-ST"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lý Văn C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21/8/2023
“Về việc tranh chấp hôn nhân gia đình giữa
Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Lý Văn C ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đàm Thị Kim Duyên.

2. Ông Bàn Đức Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Ông Ma Ngọc Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hoá hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 101/2023/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2023, về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Thôn Phúc Lộc A, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

* Bị đơn: Anh Lý Văn C, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn Phúc Long 2, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên toà; anh C vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, chị và anh Lý Văn C có quan hệ hôn nhân hợp pháp, cả hai được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Khi kết hôn có tổ chức cưới hỏi theo phong tục và đăng ký kết hôn đúng quy định tại Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố T ngày 22 tháng 10 năm 2021. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hoà thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh C có quan hệ ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác. Cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm rạn nứt không hàn gắn được. Chị xác định vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, không thể quay về chung sống, tình cảm vợ chồng không còn. Nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn C.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H xác định chị và anh Lý Văn C có 01 con chung, cháu Lý Minh K, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2022. Từ khi sinh ra đến nay cháu K do chị trực tiếp nuôi dưỡng, sống cùng chị tại nhà bố mẹ đẻ chị tại thôn Phúc Lộc A, xã A, thành phố T; anh C không có trách nhiệm gì với con, gần đây cũng không còn qua lại thăm nom con. Nên khi ly hôn chị đề nghị được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lý Minh K, là con chung của chị và anh C. Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có vay nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện H đã gửi văn bản tố tụng nhưng anh Lý Văn C không đến Toà án để làm việc. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định. Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tiến hành xác minh tại nơi cư trú cũng là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh C. Kết quả xác minh thể hiện, anh C có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại thôn Phúc Long 2, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Do vậy, việc anh C không đến Tòa án để làm việc thể hiện ý thức chủ quan của anh C là không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Kết quả xác minh đối với ông Lý Văn T, trưởng thôn Phúc Long 2, xã T, huyện H, thể hiện: Anh Lý Văn C là công dân cư trú ở thôn, ông T cũng xác nhận các nội dung về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, tài sản chung, vay nợ chung của Chị H và anh C phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Toà án đã thu thập được. Ông T xác nhận anh C hiện đang đi làm ăn xa, những dịp nghỉ lễ, tết, cuối tuần vẫn về nhà. Khi Chị H nộp đơn ly hôn, Toà án gửi văn bản tố tụng thôn có báo cho anh C biết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lý Văn C; về con chung: Giao cháu Lý Minh K, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2022 cho chị Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do Chị H chưa yêu cầu và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Các nội dung về tài sản chung, vay nợ chung ý kiến trình bày của Chị H và kết quả xác minh đều thể hiện là không có, Chị H không đề nghị giải quyết về những nội dung này nên đề nghị không xem xét giải quyết; chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Lý Văn C không phải nộp án phí; các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và ý kiến của chị Nguyễn Thị Ngọc H, cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Lý Văn C tự nguyện kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, ngày 22 tháng 10 năm 2021. Cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, không có sự gắn kết, mâu thuẫn không thể hoà giải được, vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm. Quan hệ hôn nhân giữa Chị H và anh C không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không tồn tại gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H, xử cho Chị H được ly hôn với anh Lý Văn C.

Về con chung: Theo ý kiến trình bày của chị Nguyễn Thị Ngọc H và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, đủ cơ sở xác định, Chị H và anh Lý Văn C có 01 con chung, cháu Lý Minh K, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2022; từ khi sinh ra đến nay cháu K do Chị H nuôi dưỡng, đảm bảo điều kiện sống có chỗ ở ổn định. Nên đủ cơ sở chấp nhận đề nghị của Chị H, giao cháu Lý Minh K cho Chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom, giáo dục; anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do Chị H chưa yêu cầu và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn theo quy định.

Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H xác định vợ chồng không có tài sản, đất đai chung; không có vay nợ chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lý Văn C vắng mặt không có lý do, Tòa án nhân dân huyện H đã tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, quan hệ tài sản, đất đai, vay nợ chung của Chị H và anh C, cũng như đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật. Kết quả xác minh đã thể hiện anh C có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại thôn Phúc Long 2, xã T, huyện H. Các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng và xác minh của Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng với các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án trong trường hợp một bên đương sự vắng mặt.

Tại phiên toà chị Nguyễn Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, việc đề nghị được vắng mặt tại phiên toà của Chị H không trái với các quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; anh Lý Văn C không phải nộp án phí.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lý Văn C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 26 do Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, cấp ngày 22 tháng 10 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Lý Văn C không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Minh K, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2022 cho chị Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Lý Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do Chị H chưa yêu cầu; anh C có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn theo quy định.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0006573 ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Anh Lý Văn C không phải nộp án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ