- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thúc Đ phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự xử lý; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228/2017/HSST Ngày: 14/7/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Cúc – Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Thủ Đức
2. Ông Phạm Bá Chƣơng – Cán bộ Hội Chữ thập đỏ quận Thủ Đức.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lƣơng - Cán bộ
Tòa án nhân dân quận Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông
Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 155/2017/HSST ngày 02/6/2017, đối với bị cáo:
Phan Thúc Đ; sinh năm: 1977; tại : Quảng Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; thƣờng trú: Ấp H, xã T, thị xã U, tỉnh Bình Dƣơng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Phan Thanh B; và bà: Phạm Thị L; vợ tên Hoàng Thị N; có 2 con (sinh năm 2007, 2010); tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 01/6/2006, Phan Thúc Đ bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 của Bộ luật hình sự. Do Phan Thúc Đ bỏ trốn nên ngày 01/8/2006 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định truy nã. Đến ngày 01/7/2010, Phan Thúc Đ đƣợc miễn trách nhiệm hình sự theo điểm c, đ khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc Hội nƣớc CHXHCN Việt Nam (tài sản trộm cắp dƣới 2.000.000 đồng); bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
- Người bị hại: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1970 (Chết)
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: ông Lê Văn H, sinh năm 1971, địa chỉ: Xã C, huyện P (Vắng mặt)
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Vào khoảng 05 giờ 45 phút ngày 23/8/2016, Phan Thúc Đ (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 lƣu thông trên Quốc lộ 1, hƣớng từ cầu vƣợt Sóng Thần về hƣớng cầu vƣợt Bình Phƣớc. Khi đến trƣớc trụ điện đƣờng A, phƣờng B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đ nhìn thấy phía trƣớc có một xe ô tô bốn chỗ màu trắng (không rõ biển số) lƣu thông cùng chiều cách xe của Đ khoảng 02 đến 03m, Đ điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 vƣợt bên phải xe ô tô lƣu thông phía trƣớc cùng chiều. Khi xe mô tô ba bánh do Đ điều khiển đến giữa bên phải xe ô tô bốn chỗ màu trắng thì Đ phát hiện chị Bùi Thị H đang điều khiển xe đạp lƣu thông phía trƣớc cùng chiều cách lề phải 1,5m và cách xe Đ khoảng 02 đến 03 m. Đ không kịp xử lý để bên phải giỏ đựng đồ phía trƣớc bên phải thùng xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 đụng vào mặt ngoài phía sau bên trái rổ kim loại buộc trên yên sau xe đạp do chị Bùi Thị H điều khiển gây ra tại nạn làm chị H ngã xuống đƣờng bị thƣơng nặng đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện quận Thủ Đức, đến 9 giờ 30 phút cùng ngày thì chị H tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng xác định:
Hiện trƣờng vụ tai nạn giao thông nằm trên làn xe dành cho xe 2-3 bánh (sát lề bên phải) rộng 5m70, có đặt dãy phân cách bê tông cố định để ngăn cách các làn dành cho xe ô tô cùng chiều phía trong, và phía trƣớc trụ điện đƣờng A, phƣờng B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đoạn đƣờng xảy ra tai nạn đƣợc trải nhựa bằng phẳng, không bị giới hạn tầm nhìn. Sau tai nạn hiện trƣờng để lại: xe đạp, xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325.
Xe đạp (vị trí số 3) ngã bên phải, phần đầu quay về hƣớng cầu vƣợt Bình Phƣớc, phần đuôi quay về hƣớng cầu vƣợt Sóng Thần. Trục bánh trƣớc và trục bánh sau đo vào lề chuẩn là 0m00. Đầu bánh sau đo đến trụ điện 84/2 là 9m40.
Xe ba bánh biển số 61L7-9325 (vị trí số 4) đậu trên mặt đƣờng, phần đầu quay về hƣớng cầu vƣợt Bình Phƣớc, phần đuôi quay về hƣớng cầu vƣợt Sóng Thần. Trục bánh trƣớc đo vào lề chuẩn là 0m30, trục bánh sau bên phải đo vào lề chuẩn là 0m10, trục bánh sau bên phải đo đến trục bánh trƣớc xe đạp có số đo 4m40.
Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông:
Xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 để lại dấu vết: Rổ đan kim loại có kích thƣớc 48cmx20cm, đặt gần phía trƣớc bên phải thành xe. Góc bên phải rổ đan kim loại cong theo hƣớng từ trƣớc về sau có kích thƣớc 18cmx25cm, điểm gần nhất đo cách mặt đất là 72cm. Bên phải rổ còn dính dây vải có kích thƣớc 50cmx5cm, một đầu cột kim loại còn dính trên rổ, một đầu rách nham nhở. Mặt trƣớc bên phải thành xe còn trầy xƣớc tróc sơn màu xanh có kích thƣớc 1cmx3cm, điểm gần nhất đo cách mặt đất là 73 cm.
Xe đạp để lại dấu vết: Rổ đan kim loại đƣợc gắn trên yên sau xe có kích thƣớc đƣờng kính 60cm, cao 36cm. Mặt trƣớc thanh gỗ bên trái có dính chất liệu màu xanh kích thƣớc 3cmx2cm, điểm thấp nhất đo cách mặt đất là 70cm. Mặt trái rổ đan kim loại đƣợc gắn trên yên sau còn dính chất liệu màu trắng có kích thƣớc 0,3cmx36cm, điểm thấp nhất đo cách mặt đất là 75cm. Bên trái rổ đan kim loại đƣợc gắn trên yên sau xe còn dính dây vải, đầu dây vải móc kim loại dính vào rổ, đầu còn lại đứt nham nhở có kích thƣớc 5cmx120cm. Mặt sau rổ đan kim loại đƣợc gắn trên yên thụng theo hƣớng từ trƣớc về sau kích thƣớc 55cmx28cm, điểm gần nhất đo cách mặt đất 72cm.
Tại bản kết luận giám định dấu vết va chạm số: 3098/C54B ngày 27/9/2016 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh của Tổng cục Cảnh sát kết luận:
Dấu vết trƣợt xƣớc, gãy, biến dạng, mất màu sơn trắng mặt ngoài phía trƣớc bên phải giỏ đựng đồ phía trƣớc xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325, có chiều từ trƣớc về sau, từ trái sang phải phù họp với dấu vết trƣợt xƣớc, bám chất màu trắng mặt ngoài phía sau bên trái rổ kim loại buộc trên yên sau xe đạp, có chiều từ sau về trƣớc, từ phải sang trái. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phƣơng tiện khi xảy ra tai nạn giao thông.
Trên cơ sở cơ chế hình thành dấu vết và hồ sơ vụ tai nạn giao thông nêu trên, xác định:
- Khi tham gia giao thông, xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 đang chuyển động bình thƣờng trên Quốc lộ 1 hƣớng từ phía cầu vƣợt Sóng Thần về hƣớng cầu vƣợt Bình Phƣớc, xe đạp đang chuyển động bên phải cùng chiều, xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 có tốc độ lớn hơn tốc độ của xe đạp;
- Tọa độ va chạm giữa hai phƣơng tiện nằm trên làn đƣờng ngoài cùng bên phải theo hƣớng chuyển động, không đủ cơ sở xác định chính xác vị trí va chạm;
- Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe đạp với phƣơng tiện khác khi xảy ra tai nạn giao thông.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1239/TT.16 ngày 21/9/2016 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh xác định nguyên nhân chết của Bùi Thị H là do đa chấn thƣơng.
Quá trình điều tra Phan Thúc Đ khai mua xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 của ngƣời tên Cƣờng trên Quốc lộ 13, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng (không rõ lai lịch), khi mua bán không làm hợp đồng mua bán, ngƣời bán chỉ giao xe và giấy tờ đăng ký xe mô tô ba bánh số 023979 đứng tên Ngô Văn H1. và sau đó Phan Thúc Đ sử dụng xe ba bánh biển sổ 61L7-9325 cho đến ngày gây tai nạn.
Tại bản kết luận giám định số: 248/KLGĐ-TT ngày 20/01/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bản in, hình dấu tròn có nội dung “C.H.X.H.C.N.VIỆT NAM- CÔNG AN TỈNH BÌNH DƢƠNG” chữ ký mang tên Trần Minh Hữu trên giấy đăng ký xe mô tô, gắn máy số 023979 tên chủ xe Ngô Văn Hạ, địa chỉ Hòa Long, Vĩnh Phú-Thuận An-Bình Dƣơng, biển số xe 61L7-9325, đề ngày 18/4/2008 đƣợc làm giả bằng phƣơng pháp in phun màu.
Vật chứng vụ án:
Xe mô tô ba bánh biển số: 61L7-9325, số máy: 162MK-2-1E005307, số khung: HKZ005307 (kết quả tra cứu không có trong dữ liệu đăng ký)
Xe đạp của nạn nhân Bùi Thị H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức đã trả cho chồng của Bùi Thị H là Lê Văn H.
Về giải quyết dân sự: Sau tai nạn, Phan Thúc Đ đã bồi thƣờng khắc phục cho gia đình nạn nhân số tiền 80.000.000 đồng, ông Lê Văn H là chồng nạn nhân Bùi Thị H làm đơn bãi nại, cam kết không có thắc mắc khiếu nại gì về vụ tai nạn giao thông đƣờng bộ trên.
Đối với ngƣời điều khiển xe ô tô bốn chỗ màu trắng (không rõ biển số) lƣu thông sai làn đƣờng nhƣng không va chạm vào xe mô tô ba bánh do Phan Thúc Đ điều khiển, không va chạm vào xe và ngƣời của chị H nên không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông làm chết chị H. Chị Bùi Thị H điều khiển xe đạp lƣu thông đúng làn đƣờng, bên lề phải, không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông.
Đối với vụ án hình sự “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” hiện chƣa xác định đƣợc ngƣời thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức ra quyết định tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 184/CT-VKS ngày 29/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo Phan Thúc Đ về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thúc Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phan Thúc Đ phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” và áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự, cùng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù, phần dân sự đã giải quyết xong, tịch thu sung quỹ chiếc xe biển số 61L7-9325.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những ngƣời tham gia tố tụng khác,
XÉT THẤY
Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thúc Đ phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã đƣợc thu thập, có cơ sở để xác định bị cáo Phan Thúc Đ điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 61L7-9325 lƣu thông vƣợt xe không đảm bảo khoảng cách an toàn, vi phạm quy định tại Điều 14 Luật giao thông đƣờng bộ, gây tai nạn với hậu quả nghiêm trọng làm chị Bùi Thị H chết. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Phan Thúc Đ phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”, tội phạm và hình phạt đƣợc qui định và trừng trị tại Điều 202 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây thiệt hại đến tính mạng của ngƣời khác, ảnh hƣởng xấu đến trật tự an toàn xã hội của địa phƣơng. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự xử lý bị cáo nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lƣợng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thƣờng và đƣợc đại diện ngƣời bị hại đã bãi nại cho bị cáo, bị cáo thuộc gia đình có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự, nghĩ nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Bị cáo Phan Thúc Đ đã bồi thƣờng khắc phục cho gia đình ngƣời bị hại Bùi Thị H số tiền 80.000.000 đồng, ông Lê Văn H là chồng ngƣời bị hại Bùi Thị H làm đơn bãi nại, phần dân sự đã giải quyết xong.
- Xe mô tô ba bánh biển số: 61L7-9325, số máy: 162MK-2-1E005307, số khung: HKZ005307, kết quả tra cứu không có trong dữ liệu đăng ký. Bị cáo Đ khai bị cáo mua lại xe có giấy tờ, không biết nguồn gốc xe không hợp lệ. Xét thấy xe không có đăng ký, không xác định đƣợc chủ sở hữu, cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc, riêng biển số 61L7-9325 là giả, cần tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phan Thúc Đ phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Phan Thúc Đ 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc: 01 xe mô tô ba bánh, số máy: 162MK-2-1E005307, số khung: HKZ005307.
Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 61L7-9325
(Phiếu nhập kho số 149 ngày 12/7/2017 tại Chi cục Thi hành án quận Thủ Đức)
Bị cáo Phan Thúc Đ chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; riêng ngƣời đại diện của ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Ngƣời đại diện của ngƣời bị hại; - VKS, CA, Chi cục THA Q.TĐ; - PC27; - Sở Tƣ pháp Tp.HCM; - Lƣu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tôn Trung Tuấn |