- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Th- Nguyễn Văn Đ"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228 /2017/HNGĐ-ST Ngày: 21-11-2017 V/v Ly hôn giữa chị Th và anh Đ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Vũ Văn Ái.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Trần Tiến Sử;
Ông Nguyễn Ngọc Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đính – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 21/11/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 211/2017/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2017 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Th, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Xóm 1, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Xóm 1, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Chị Th và anh Đ xin được vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 01 tháng 9 năm 2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đỗ Thị Th trình bày:
Chị Đỗ Thị Th và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và được UBND xã Hải Chính, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/01/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh Đ. Đến năm 2014 do hoàn cảnh kinh tế khó khăn vợ chồng vào miền nam làm kinh tế thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm lối sống khác nhau nên trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích cãi chửi nhau. Tháng 12/2015 vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Th làm đơn xin được ly hôn anh Đ.
Về con chung và về tài sản chung và công nợ: Chị Đỗ Thị Th trình bày vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa án. Anh Nguyễn Văn Đ đã có lời khai phù hợp với lời khai của chị Th về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và về nguyên nhân mâu thuẫn. Tuy nhiên do anh Đ và chị Th đều theo đạo Thiên chúa giáo, giáo lý không cho phép ly hôn nên chị Th làm đơn xin ly hôn anh, anh không nhất trí ly hôn.
Về con chung và về tài sản chung và công nợ: Anh Nguyễn Văn Đ xác nhận vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Do anh Đ không nhất trí ly hôn nên anh Đ xin được vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội Đ xét xử nhận định:
. Về tố tụng dân sự:
Chị Đỗ Thị Th và anh Nguyễn Văn Đ có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội Đ xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Th và anh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Đỗ Thị Th và anh Nguyễn Văn Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Hải Chính, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 13/01/2011. Do trong cuộc sống vợ chồng tính tình hai người không hợp, quan điểm lối sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Từ tháng 12/2015, vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, sinh lý và trách nhiệm đối với nhau từ đó đến nay nên chị Th đề nghị xin được ly hôn anh Đ.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh Đ đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị Th đối với anh Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Chị Th và anh Đ không có con chung nên Hội Đ xét xử không đặt ra giải quyết.
. Về tài sản chung và công nợ: Chị Th và anh Đ xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên Hội Đ xét xử không đề cập giải quyết.
. Về án phí: Chị Đỗ Thị Th phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Th và anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung và công nợ: Không có.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Th phải nộp 300.000 Đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 Đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002316 ngày 30/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Th đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh: 01 bản; - VKSND huyện + Tỉnh: 2 bản; - Chi cục THA dân sự huyện Hải Hậu: 1 bản; - UBND xã Hải Chính: 01 bản; - Mỗi đương sự: 01 bản; - Hồ sơ vụ án: 02 bản; - Lưu văn phòng: 01 bản. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Ái |