- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN GOØ COÂNG ĐÔNG TÆNH TIEÀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 227/2022/DS-ST Ngaøy: 19/9/2022 V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Lê Thị Nguyệt Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân
1. Ông Phạm Minh Đức.
2. Bà Võ Thị Lệ.
Thö kyù phieân toøa: Bà Hoàng Thị Thảo – thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 127/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2022/QÑXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2022 giöõa caùc ñöông söï:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V;
Địa chỉ: 89 Láng H, phường Láng H, quận Đống Đ, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T1, chức vụ: Phó tổng giám đốc Công ty TNHH quản lý tài sản NH TMCP V, kiêm Phó giám đốc khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ phía Nam.
Đại diện ủy quyền lại: Phan Văn D, sinh năm: 1993 (Có mặt)
Địa chỉ: Số 6 Lê Cao D, phường X, thành phố T, tỉnh L.
2. Bị đơn:
Võ Văn V, sinh năm 1968 (Vắng mặt);
La Thị T1, sinh năm: 1971 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng đại diện ủy quyền của nguyên đơn anh Phan Văn D trình bày:
Vào ngày 30/8/2017 Ngân hàng có ký hợp đồng tín dụng số LN1708240167909/TGG/HĐTD với ông V, bà T1 cho ông V, bà T1 vay số tiền 503.000.000 đồng. Ngày 30/8/2017 Ngân hàng đã giải ngân số tiền này và ông V, bà T1 đã nhận đủ tiền. Lãi suất 13.4%/năm, thời hạn vay 83 tháng. Tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia biển số 63A 07237 do Công an tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30/8/2017. Quá trình thực hiện hợp đồng ông bà đã trả được vốn gốc 279.096.968 đồng và lãi là 185.276.036 đồng thì ngưng. Còn nợ lại 223.903.032 đồng và tiền lãi.
Vào ngày 18/11/2019 Ngân hàng có ký hợp đồng tín dụng số VOCL1932200116 với ông V, bà T1 cho ông V, bà T1 vay số tiền 91.000.000 đồng với hình thức vay là tín chấp, lãi suất 20%/năm, thời hạn vay là 36 tháng, hình thức trả vốn và lãi mỗi tháng. Ngày 18/11/2019 ông V, bà T1 được Ngân hàng giải ngân và đã nhận đủ số tiền 91.000.000 đồng. Sau khi vay tiền ông V, bà T1 đã trả cho Ngân hàng được 51.011.276 đồng tiền gốc và 24.784.453 đồng tiền lãi thì ngưng cho đến nay.
Vào ngày 12/11/2020 Ngân hàng có ký hợp đồng tín dụng số VOCL2031700279 với ông V, bà T1 cho ông V, bà T1 vay số tiền 39.000.000 đồng với hình thức vay là tín chấp, lãi suất 20%/năm, thời hạn vay là 36 tháng, hình thức trả vốn và lãi mỗi tháng. Ngày 12/11/2020 ông V, bà T1 được Ngân hàng giải ngân và đã nhận đủ số tiền 39.000.000 đồng. Sau khi vay tiền ông V, bà T1 đã trả cho Ngân hàng được 9.876.019 đồng tiền gốc và 6.431.230 đồng tiền lãi thì ngưng cho đến nay
Nay các khoản nợ trên đã quá hạn Ngân hàng xác định ông V bà T1 còn nợ lại Ngân hàng số tiền vốn là 293.105.737 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông V, bà T1 trả làm một lần số tiền vốn còn nợ là 293.105.737 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đến khi thanh toán xong vốn gốc. Trường hợp ông V bà T1 không trả nợ đề nghị thi hành án tài sản thế chấp là ô tô nhãn hiệu Kia biển số 63A 07237 do Công an tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30/8/2017 để thu hồi nợ.
* Bị đơn ông Võ Văn V, bà La Thị T1 vắng mặt không lý do dù đã đã được triệu tập hợp lệ nên không thể hiện ý kiến của mình.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Áp dụng điều 463 Bộ luật dân sự, Điều 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Quan hệ mà các bên đang tranh chấp là “Hợp đồng dân sự vay tài sản” được qui định tại điều 463 Bộ luật Dân sự là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Võ Văn V, bà La Thị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, hai lần thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông Võ Văn V, bà La Thị T1 theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP V yêu cầu ông Võ Văn V, bà La Thị T1 cùng có nghĩa vụ trả số tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày 19/9/2022 tổng cộng là 364.734.985 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng, trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc ký hợp đồng tín dụng số LN1708240167909/TGG/HĐTD ký ngày 30/8/2017; Hợp đồng tín dụng số VOCL1932200116 ký ngày 18/11/2019; Hợp đồng tín dụng số VOCL2031700279 ký ngày 12/11/2020 giữa Ngân hàng TMCP V với ông V, bà T1 trên cơ sở thế chấp và tín chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án ông V, bà T1 không đến Tòa để trình bày ý kiến phản đối của mình đối với tài liệu, chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V, điều đó cho thấy ông V, bà T1 mặc nhiên thừa nhận và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V. Do đó đã đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự.
Xét yêu cầu Ngân hàng TMCP V về thời gian trả số tiền vay vốn và lãi tạm tính đến ngày 19/9/2022 là 364.734.985 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay Ngân hàng yêu cầu ông V, bà T1 trả số tiền vay vốn và lãi làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy, đến nay ông V, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng vay nên yêu cầu của Ngân hàng về thời gian trả là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ:
- Điều 463, Điều 468 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng
- Điều 26, Điều 35, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
Buộc ông Võ Văn V, bà La Thị T1 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 19/9/2022 của các hợp đồng hợp đồng tín dụng số LN1708240167909/TGG/HĐTD ký ngày 30/8/2017; Hợp đồng tín dụng số VOCL1932200116 ký ngày 18/11/2019; Hợp đồng tín dụng số VOCL2031700279 ký ngày 12/11/2020 là 364.734.985 đồng ( Ba trăm sáu mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi bốn ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Võ Văn V, bà La Thị T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay. Thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ khi Ngân hàng TMCP V có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà La Thị T1, ông Võ Văn V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông phát mãi tài sản thế chấp là ô tô nhãn hiệu Kia biển số 63A 072.37 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 015743 do Công an tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30/8/2017 để đảm bảo thu hồi nợ cho Hợp đồng tín dụng số LN1708240167909/TGG/HĐTD ký ngày 30/8/2017.
2/ Về án phí:
Ông Võ Văn V, bà La Thị T1 phải nộp 18.236.800 đồng (Mười tám triệu hai trăm ba mươi sáu ngàn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền 8.838.500 đồng (Tám triệu tám trăm ba mươi tám ngàn năm trăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007926 ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| - VKSND huyện GCĐ; - Chi cuïc THA huyện GCĐ; - Caùc ñöông söï; - Löu HS- AV. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ NGUYỆT HỒNG |