vanban.org

Bản án 227/2023/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Đăng L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng L phạm tội MBTPMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2023/HSST
Ngày: 29/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Lưu và ông Nguyễn Văn Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thao - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 224/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đăng L, sinh năm 1971; HKTT: Khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Đăng H, sinh năm 1937 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1940. Gia đình có 07 anh em, bị cáo là thứ tư. Có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976 và có 02 con, cùng sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/10/2003, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Ninh (nay là Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 25/2/2005.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2023 đến nay, có mặt ở điểm cầu trực tuyến thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 13/7/2023, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B tuần tra tại khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, phát hiện Nguyễn Đăng L có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma tuý nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, thu giữ: Nguyễn Đăng L đã tự nguyện giao nộp tại tay trái 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng. L khai, 02 viên nén màu đỏ cùng tinh thể màu trắng là ma tuý tổng hợp L mua để sử dụng cho bản thân nhưng chưa sử dụng thì bị kiểm tra, thu giữ. Cơ quan Công an đã niêm phong túi nilon màu trắng chứa viên nén màu đỏ và chất tinh thể màu trắng vào phong bì thư theo quy định.

Cùng ngày, cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định toàn bộ số ma tuý thu giữ của L. Tại bản Kết luận giám định số 1472/KL- KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: - 02 viên nén màu đỏ gửi giám định có khối lượng là 0,1845 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine. - Chất tinh thể màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,0614 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Nguyễn Đăng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên sáng ngày 13/7/2023, Nguyễn Đăng L đi xe bus từ thành phố B đến khu vực thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến địa phận T, L xuống xe đi bộ tìm mua ma tuý. Trên đường đi, L gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 400.000đồng ma túy tổng hợp được 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng. Luyện biết bên trong túi nilon là ma túy cần mua nên nhận rồi đi về. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đi bộ đến khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì Cơ quan Công an tuần tra phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Tại Bản Cáo trạng số 182/CT-VKSTPBN ngày 13/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đăng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và thừa nhận Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Đăng L từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đăng L tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản kiểm tra; biên bản khám xét; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 13/7/2023 tại khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B kiểm tra, phát hiện Nguyễn Đăng L có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,2459 gam ma tuý Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma tuý cũng là nguyên nhân phát sinh các tội phạm hình sự khác. Do vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: ngày 28/10/2003, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Ninh (nay là Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 25/2/2005. Bản án này đương nhiên được xóa án tích, lần này phạm tội không bị coi là tái phạm. Bị cáo đã không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh bản thân, sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục phạm tội, do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành những công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì thư niêm phong dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma tuý cho L ở thành phố T, tỉnh Bắc Ninh nhưng L không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Đăng L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1472/KL- KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.

(Biên bản giao nhận vật chứng số 166/GN-CCTHADS ngày 11/9/2023 giữa Công an thành phố Bắc Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đăng L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ