- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường T 05 ( năm) năm 06 ( sáu ) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 227/2022/HSST Ngày: 20/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Mai
2. Bà Lê Thị Thu Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại phòng xét xử trực tuyến, Tòa án nhân dân thành phố H và phòng xét xử trực tuyến tại trại tạm giam số xxx – Công an thành phố H xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 226/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường T, sinh năm 1996 tại N; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Đội xxx, xã X, huyện X, tỉnh N; Nơi cư trú: Số xxx, ngõ xxx V, phường V, quận H, thành phố H; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên mẹ: Hoàng Thị N; Họ tên bố: Nguyễn Văn G; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sư: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/9/2022. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam số xxx – Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 45 ngày 11/9/2022, Nguyễn Trường T thuê xe ôm Grab đi từ Số xxx, ngõ xxx V, phường V, quận H, thành phố H đến khu vực cầu V thuộc xã T, huyện T, thành phố H để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T xuống xe và đi bộ được một đoạn đường thì gặp và mua một người đàn ông không quen biết 10 viên nén ma túy màu xanh dạng “kẹo” và 3 gói nilong bên trong có chứa tinh thể ma túy dạng “ke” với giá 8.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất số ma túy mua được vào trong túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ tìm bắt xe ôm để về nhà. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/9/2022, tổ công tác đại đội xxx, tiểu đoàn Cảnh sát cơ động số xxx, trung đoàn Cảnh sát cơ động Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên đường V, xã T, T, H phát hiện Nguyễn Trường T đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bên trong túi quần trái, phía trước T đang mặc có 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 08 x 10cm bên trong có chứa 10 viên nén màu xanh hình tam giác, 03 túi nilong kích thước 02 x 03 cm bên trong có chứa các tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tại chỗ, T khai đó là ma túy T mua về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện nên tổ công tác phối hợp với Công an xã T, huyện T, thành phố H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc.
Xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Trường T: Dương tính.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Trường T. Tại bản Kết luận giám định số 6417/KL-KTHS ngày 20/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
+ 10 viên nén màu xanh đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 4,483 gam
+ Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi nilong đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 3,588 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng 0,891 gam trong tổng số 4,483 gam ma túy loại MDMA và sử dụng 0,366 gam ma túy loại Ketamine trong tổng số 3,588 gam ma túy loại Ketamine để giám định, hoàn trả cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thanh Trì 3,592 gam ma túy loại MDMA và 3,222 gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trường T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của T phù hợp với các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, T khai không biết họ tên, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T không có căn cứ xác minh làm rõ.
Tại bản Cáo trạng số 219/CT/VKSTT ngày 21 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Nguyễn Trường T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Trường T từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Trường T thừa nhận cáo trạng của VKS truy tố bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản phạm tội quả tang phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Hồi 00 giờ 30 phút ngày 12/9/2022, tại đường V, xã T, huyện T, thành phố H, Nguyễn Trường T cất giấu trong người trái phép 4,483 gam ma túy loại MDMA và 3,588 gam ma túy loại Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc hại, huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Do vậy, phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Đối với 3,592 gam ma tuý loại MDMA và 3, 222 gam ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo là hàng hóa nhà nước cấm mua bán tàng trữ trái phép nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, không xác định được nhân thân nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thanh Trì không có căn xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm n Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường T 05 ( năm) năm 06 ( sáu ) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2022.
Miễn phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 3,592 gam ma tuý loại MDMA và 3, 222 gam ma túy loại Heroine. (Vật chứng trên hiện đang nhập kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 12 năm 2022).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố H; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Thi hành án dân sự quận huyện T; - Sở tư pháp; - Những người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội; - Lưu: HS; THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Hải |