- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Chính sách xã hội tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” với Ông Nguyễn Hòa B"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng chính sách xã hội đối với ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị DiễmH, chị Nguyễn Thị Kim T. + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội đối với ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị DiễmH chị Nguyễn Thị Kim T về việc trả vốn vay…
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 227/2022/DS-ST Ngày: 27/9/2022 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Sức
2. Bà Nguyễn Thị KimChi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022,tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2022/TLST-DS, ngày 20 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp dân sự “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2022/QĐXXST- DS, ngày 25 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội. Địa chỉ: số 169 p hố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Thắng – chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Ngọc Bửu Châu – Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch NHCSXHhuyện Phú Tân. Địa chỉ số 177 Tôn Đức Thắng, thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân (theo Quyết định số 7300/QĐ – NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội về việc ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án). Ủy quyền lại cho bà Nguyễn Ngọc Nga – chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện Phú Tân.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hòa B sinh năm 1963,địa chỉ: tổ 7, ấp Hiệp H, xã Hiệp X, huyện Phú T, tỉnh An Giang
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Diễm H sinh năm 1963, chị Nguyễn Thị Kim T cùng địa chỉ tổ 7, ấp Hiệp H, xã Hiệp X, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(bà Ng có mặt, ông Hòa B, bà H, chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 30/3/2022, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn do bà Nguyễn Ngọc Nga đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 06/04/2011 ông Nguyễn Hoà B đại diện cho hộ gia đình vay vốn tại phòng giao dịch NHCSXH huyện Phú Tân cho sinh viên Nguyễn Thị Kim T đi học, chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn với số tiền là 29.000.000đ, thời hạn trả nợ vay là 06/4/2018 lãi suất trong hạn là 0,5%/tháng và 0,65%/tháng. Đến thời hạn trả nợ phía gia đình ông Hoà B khó khăn nên đã được Ngân hàng cho gia hạn nợ 02 lần (lần 1 gia hạn đến ngày 06/10/0218, lần 2 gia hạn đến ngày 06/4/2019) nhưng phía hộ gia đình ông Hoà Ba vẫn không thực hiện trả nợ vay và đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 06/4/2019,lãi suất nợ quá hạn là 0,845%/tháng. Quá trình vay vốn đến thời gian trả nợ, thời gian cho gia hạn p hía Ngân hàng đã nhiều lần đến nhà gặp gỡ đôn đốc, nhắc nhở gia đình ông Hoà B, bà Diễm H, chị Kim T thanh toán khoản nợ vay cho Ngân hàng, nhưng vẫn không thực hiện việc trả nợ, mặc dù gia đình ông Hoà B có khả năng trả nợ nhưng vẫn cố tình không trả. Nay bà Nga đại diện cho Ngân hàng chính sách yêu cầu hộ gia đình ông Hoà B, bà Diễm H và chị Kim T cùng có trách nhiệm trả số tiền vay vốn là 29.000.000đ và tiền lãi là 11.770.000đ (tạm tính đến ngày 27/9/2022). Tổng cộng là 40.770.000 đồng. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không ghi nhận ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Chính sách xã hội khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hòa B, bà H chị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội vốn vay là 29.000.000 đồng và lãi p hát sinh theo sổ vay vốn nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại tổ 7, ấp Hiệp Hòa, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Do đó vụ án thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại Chương X của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng chính sách xã hội với ông Nguyễn Hòa Ba(đại diện cho hộ gia đình) được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, được thể hiện bằng sổ vay vốn theo chương trình cho vay gồm cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn số tiền 29.000.000đ vào ngày 06/4/2011. Về hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở hợp đồng đã ký kết Ngân hàng giải ngân cho ông Nguyễn Hòa Ba
Căn cứ các chứng cứ Ngân hàng chính sách xã hội yêu cầu gồm sổ vay vốn theo chương trình cho vay gồm cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn số tiền 29.000.000đ vào ngày 06/4/2011 đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 06/4/2019 và giấy ủy quyền cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ của các thành viên trong hộ đối với các khoản vay nói trên. Tuy nhiên quá trình tố tụng các đương sự không có ý kiến gì đối với các chứng cứ này. Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý.
Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn với ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị Diễm H, chị Nguyễn Thị Kim T được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, theo đó hộ ông Nguyễn Hòa B đã nhận đủ số tiền vay của hợp đồng. Sau khi vay thì hộ ông Nguyễn Hòa B không thực hiện nghĩa vụ đóng lãi và trả vốn theo hợp đồng đã ký. Ngân hàng đã tạo điều kiện đôn đốc, nhắc nhở và các đương sự có cam kết trả nợ nhưng đến nay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ. Vì vậy, buộc các đương sự có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân Hàng đối với số tiền vốn còn nợ của chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn với số tiền là 29.000.000đ. Đối với tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn nguyên đơn yêu cầu tính đến ngày 27/9/2022 căn cứ theo quy định hợp đồng các bên đã ký kết yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp nghĩ nên chấp nhận. Tính đến ngày 27/9/2022 số tiền lãi của khoản vay 29.000.000đ là 11.770.000đ. Từ những cơ sở trên nghĩ nên buộc ông B, bà H, chị T có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 27/9/2022 của hợp đồng tín dụng tổng cộng là 40.770.000đ. [3] Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu tiền án p hí sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: + Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; + Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015; + Các Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; + Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
- Tuyên xử: Công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng chính sách xã hội đối với ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị DiễmH, chị Nguyễn Thị Kim T. + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội đối với ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị DiễmH chị Nguyễn Thị Kim T về việc trả vốn vay, lãi phát sinh còn nợ theo sổ vay vốn hai bên đã ký kết. + Buộc ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị Diễm H, chị Nguyễn Thị Kim T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền vốn vay 29.000.000đ và lãi phát sinh tính đến ngày 27/9/2022 là 11.770.000đ. Tổng cộng vốn và lãi là 40.770.000đ.
+ Kể từ ngày 28/9/2022, ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị Diễm H, chị Nguyễn Thị Kim T còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận sổ vay vốn theo chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Về án phí sơ thẩm:
+ Ông Nguyễn Hòa B, bà Hồ Thị Diễm H, chị Nguyễn Thị Kim T p hải chịu án phí là 2.038.000 đồng.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Phú Tân, AG; - Chi cục THA.DS huyện; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hs, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |