- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Phạm Chí T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b…"
- Tòa quyết gì? C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình s ;
- Căn cứ chính? luật Tố tụng hình s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 227/2021/HS-PT Ngày: 08-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông ê h c Th nh
Các thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng
Ông Nguyễn Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hu nh V n Nh t Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 10 n m 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình s ph c thẩm thụ lý số: 157/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 n m 2021 đối với b cáo Bùi Phạm Chí T. Do có kháng cáo của cáo đối với ản án hình s sơ thẩm số: 23/2021/HS-ST ngày 12 tháng 4 n m 2021 của Tòa án nhân dân huyện C.
- Bị cáo có kháng cáo: ùi Phạm Chí T, sinh n m 1980, tại huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc t ch: Việt Nam; Dân tộc: inh; Tôn giáo: Hòa hảo; Đ ng ký hộ khẩu thường tr và chỗ ở: ấp , xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Tiền án, tiền s : Không; Đặc điểm nhân thân: Ngày 02/5/2013, Công an huyện C, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.400.000 đồng về hành vi vận chuyển hàng hóa nhập lậu. Cha: ùi Phước D, sinh n m 1928 (chết); Mẹ: Phạm Th A, sinh n m 1940; Vợ: Trần Th Th y L, sinh n m 1984; Có hai con, sinh n m 2002 và 2003; Anh ch em ruột: có 08 người, cáo là người thứ tám. Hiện cáo đang áp dụng iện pháp cấm đi khỏi nơi cư tr và có mặt tại phiên tòa.
Người ào chữa cho cáo ùi Phạm Chí T theo yêu cầu: uật sư Trần Ngọc Phước - V n phòng luật sư Trần Ngọc Phước thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang (có mặt).
Trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Bùi Phạm Chí T có giấy phép lái xe hạng E, có giá tr đến tháng 7 n m 2021, là tài xế của Công ty trách nhiệm hữu hạn H chạy tuyến cố đ nh từ thành phố C, tỉnh An Giang đến thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Vào khoảng 11 giờ ngày 24/10/2020, Bùi Phạm Chí T điều khiển xe ô tô khách mang biển số 51B-052.XX xuất bến từ thành phố C, tỉnh An Giang đi thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô chở khoảng 10 người khách chạy trên Quốc lộ 80 từ thành phố S đến thành phố V, tỉnh Vĩnh ong với vận tốc khoảng 40km/h. hi đến Km 06+730, thuộc ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, T phát hiện phía trước phần đường b sụt l n, nên điều khiển xe ô tô chạy lấn sang làn đường ên trái để tránh thì đầu xe bên trái ô tô va chạm vào xe mô tô mang biển số 66M1-21XX do anh Nguyễn V n P, sinh n m 1978, điều khiển đi chiều ngược lại. Hậu quả làm cho Nguyễn V n P tử vong tại hiện trường.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 14 giờ 40 phút ngày 24/10/2020 của Công an huyện C thể hiện như sau:
- Đoạn đường xảy ra tai nạn có chiều rộng là 11m, được trãi nh a nhưng hư hỏng nhiều nơi, đoạn đường thẳng tầm nhìn không b hạn chế.
- Tâm vùng va chạm giữa xe ô tô và xe mô tô cách lề phải hướng đi của xe mô tô là 3,40 mét.
Tại biên bản khám xe ô tô mang biển số 51B-052.XX ngày 24/10/2020 của Công an huyện C thể hiện:
Phía trước đầu xe bên trái có các vết như sau:
- Gương ch n gió b nứt, bể kích thước 1,10m x 1,20m.
- Ốp chụp phía trên hệ thống đèn móp, nứt và có vết màu đỏ kích thước 10cm x 06cm, có tâm xuống mặt đất 1,05m.
- Ốp chụp phía trên cảng xe b bể, kích thước 14cm x 08cm.
- Khung cảng ngang phía trước đầu xe bằng kim loại b cong thụng về sau dài 15cm, có tâm xuống mặt đất 55cm.
- Hệ thống đèn hư hỏng hoàn toàn b rơi ra ngoài.
- Khung cảng đứng b bể, trầy xước kích thước 07cm x 04cm.
- Cảng trước có g n biển số 51B-052.XX b rơi ra ngoài có vết xước kích thước 28cm x 10cm.
Tại biên bản khám xe mô tô biển số 66M1-21XX ngày 24/10/2020 của Công an huyện Châu Thành thể hiện:
- Ốp chụp công tơ mét, đồng hồ công tơ mét, hệ thống đèn, mặt nạ b bể, hư hỏng hoàng toàn và rơi ra ngoài.
- Ghi đông cong lệch theo hướng từ trước ra sau và từ trái qua phải.
- Mỏ dè ch n ùn phía trước b bể và trầy xước nhiều nơi, kích thước 24cm x 43cm, dè ch n ùn phía sau bể hoàn toàn và rơi ra ngoài.
- Gương chiếu hậu b bể hoàn toàn và rơi ra ngoài.
- Bửng xe b hư hỏng hoàn toàn.
- Ốp chụp sườn xe nằm phía dưới yên xe b cong thụng và bể kích thước 70cm x 25cm.
- Đầu ghi đông trầy xước kích thước 1,5cm x 0,2cm
- Gác chân người điều khiển b cong lệch về sau, đầu gác chân người điều khiển b trầy xước kích thước 03cm x 02cm.
Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về tử thi số: 357/TTh-TTPY ngày 24/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Nguyễn V n P b va chạm vùng đầu vào vật cứng, chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, phù não, xuất huyết não, màng não dẫn đến tử vong.
Tại các Bản kết luận giám đ nh số: 1011/KL-KTHS và số 1012/KL-KTHS cùng ngày 03/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình s Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
Nồng độ cồn trong máu của Nguyễn V n P và của Bùi Phạm Chí T là không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trao trả cho bà Trần Th H là người đại diện hợp pháp cho anh P gồm: 01 xe mô tô cùng giấy đ ng ký xe mô tô, xe máy mang biển số 66M1-21XX, mang tên Nguyễn V n P; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 780031023981 tên Nguyễn V n P; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn V n P;
Tạm giữ của Bùi Phạm Chí T gồm: 01 giấy phép lái xe hạng E, số 890143009903 tên Bùi Phạm Chí T, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Bùi Phạm Chí T. Đã trao trả cho T 01 giấy chứng minh nhân dân. Tạm giữ và trao trả cho ông Đào V n N là người đại diện theo ủy quyền cho Công ty trách nhiệm hữu hạn H gồm: 01 xe ô tô khách mang biển số 51B-052.XX, hiệu THACO màu tím - tr ng, số máy D6CBC224568, số khung 2SBKCC092712; 01 bản sao giấy đ ng ký xe 51 -052.XX.
Trong quá trình điều tra, Bùi Phạm Chí T và ông Đào V n N là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn H đã thỏa thuận bồi thường xong cho bà Trần Th H là người đại diện hợp pháp cho anh P gồm tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp duỡng nuôi 02 con của anh P, tổng cộng là 230.000.000 đồng. Đến ngày 10/12/2020, bà Trần Th H đã làm đơn ãi nại đề ngh miễn trách nhiệm hình s đối với Bùi Phạm Chí T.
Tại bản án hình s sơ thẩm số: 23/2021/HS-ST ngày 12/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết đ nh:
C n cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 ộ luật hình s n m 2015;
Tuyên ố cáo ùi Phạm Chí T phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường ộ”;
Xử phạt: cáo ùi Phạm Chí T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật đ nh.
Ngày 23 tháng 4 n m 2021, b cáo Bùi Phạm Chí T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát iểu quan điểm: Hành vi của b cáo Bùi Phạm Chí T b Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của ộ luật hình s là có c n cứ, đ ng người, đ ng tội và đ ng quy đ nh của pháp luật. au khi án sơ thẩm tuyên, b cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho b cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo trình bày rằng b cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi mẹ già, con nhỏ. Tuy nhiên, xét mức hình phạt 09 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với b cáo là phù hợp. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ nguyên phần Quyết đ nh của ản án sơ thẩm về hình phạt đối với b cáo.
Luật sư ào chữa cho b cáo phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của v đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với b cáo. Luật sư cho rằng mức hình phạt 09 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với b cáo là mức án dưới khung. au khi án sơ thẩm tuyên, b cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, tuy b cáo không cung được cấp tình tiết nào mới nhưng tại phiên tòa b cáo đã nêu ra những tình tiết giảm nhẹ mới mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho cáo như cáo chưa có tiền án tiền s , chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, b cáo là lao động chính trong gia đình tr c tiếp nuôi mẹ già trên 80 tuổi và 02 con nhỏ còn nhỏ. Bản thân b cáo đã ly hôn với vợ. Đồng thời, v luật sư cũng nêu ra những tình tiết như đối với xe giường nằm, xe tải lớn bao giờ cũng có điểm mù nên b cáo không thể quan sát để xử lý. Chung quy, v luật sư đề ngh Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết vừa nêu, chấp nhận kháng cáo của b cáo và cho b cáo được hưởng án treo.
B cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với lời bào chữa của v luật sư, không tranh luận mà chỉ xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Tại phiên tòa b cáo Bùi Phạm Chí T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của b cáo phù hợp với lời khai của b cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của b hại, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác đ nh: Vào khoảng 14 giờ ngày 24/10/2020, b cáo Bùi Phạm Chí T điều khiển xe ô tô khách mang biển số 51B-052.XX chạy trên Quốc lộ 80 hướng từ thành phố S, tỉnh Đồng Tháp đến thành phố V, tỉnh Vĩnh ong. hi đến Km 06+730, Quốc lộ 80, thuộc ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, b cáo phát hiện phía trước phần đường b sụt l n, nên điều khiển xe ô tô chạy lấn sang làn đường ên trái thì đầu xe bên trái của ô tô va chạm vào xe mô tô mang biển số 66M1-21XX do Nguyễn V n P điều khiển ngược chiều, làm cho anh Nguyễn V n P tử vong tại chỗ.
Hội đồng xét xử xét thấy, b cáo Bùi Phạm Chí T điều khiển ô tô khách chạy không đ ng phần đường, làn đường theo quy đ nh để xảy ra va chạm với xe mô tô của anh Nguyễn V n P làm anh P tử vong, đã gây ảnh hưởng xấu đến trật t an toàn giao thông đường bộ ở đ a phương. Hành vi của b cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”, được quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s .
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử b cáo Bùi Phạm Chí T về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” theo quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s là có c n cứ, đ ng người, đ ng tội. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với b cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do b cáo gây ra. Án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với cáo và đã áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. au khi án sơ thẩm tuyên, b cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp tình tiết nào mới. Tại phiên tòa b cáo đã trình bày về hoàn cảnh gia đình của b cáo đang gặp khó kh n, cáo đã ly hôn với vợ và hiện là lao động chính duy nhất trong gia đình tr c tiếp nuôi mẹ già trên 80 tuổi và 02 con nhỏ còn nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s mới mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho cáo. Tuy nhiên, những tình tiết này không phải là điều kiện để cho b cáo được hưởng án treo theo quy đ nh. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ nguyên phần Quyết đ nh của ản án sơ thẩm về hình phạt đối với b cáo.
Xét lời phát biểu của v đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với b cáo Bùi Phạm Chí T là hoàn toàn có c n cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét lời bào chữa của v luật sư về các tình tiết giảm nhẹ cho b cáo là có c n cứ. Tuy nhiên, xét đề ngh của luật sư xin cho b cáo được hưởng án treo là chưa phù hợp như Hội đồng xét xử đã phân tích ở phần trên nên không chấp nhận.
Do kháng cáo của b cáo Bùi Phạm Chí T không được chấp nhận nên b cáo phải ch u án phí hình s phúc thẩm theo luật đ nh.
Các phần khác của quyết đ nh ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu l c kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình s ;
Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Bùi Phạm Chí T. Giữ nguyên quyết đ nh của ản án sơ thẩm.
2. Tuyên bố b cáo Bùi Phạm Chí T phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”.
C n cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 ộ luật hình s ;
Xử phạt: cáo ùi Phạm Chí T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo chấp hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 ộ luật Tố tụng hình s ;
B cáo Bùi Phạm Chí T phải ch u 200.000 đồng án phí hình s phúc thẩm.
Các phần khác của quyết đ nh ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh
có hiệu l c kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
ản án ph c thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐ T 1); - V ND Tỉnh; - an nội chính Tỉnh ủy; - ở Tư pháp Tỉnh; - Cơ quan THAH Công an Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - TAND huyện C (03 ản); - VKSND huyện C; - Chi cục THAD huyện C; - Cơ quan C ĐT CAH huyện C; - Cơ quan THAH CA huyện C; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - cáo; Người ào chữa; - ưu VT, H VA, (M). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |