vanban.org

Bản án 227/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 04/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật h nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017:

X phạt bị cáo Nguyễn Chí N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù ề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, th i hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. [2] Về trách nhi m dân s : Căn cứ Điều 48 Bộ luật H nh s năm 2015, các Điều 584, 585 à Điều 591 à Điều 601 Bộ luật Dân s .… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí N phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật h nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017:
  • Căn cứ chính? Điều 356 Bộ luật Tố t ng H nh s; Điều 48 Bộ luật H nh s; Điều 601 Bộ luật Dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2020/HSPT
Ngày: 04- 9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Văn Công Dần, bà Trần Thị Phượng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:Ông Trần Văn Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk ti n hành t phúc th m án h nh s th lý số: 215/2020/TLPT-HS, ngày 23 tháng 7 năm 2020, đối ới bị cáo Nguyễn Chí N ề tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do c kháng cáo c a bị cáo, ngư i đại di n hợp pháp c a bị hại đối ới bản án h nh s s th m số: 152/2020/HS-ST, ngày 11/6/2020 c a Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo:

Họ à tên: Nguyễn Chí N; Sinh ngày 18/7/1998 tại tỉnh Đắk Lắk; N i cư trú: thị trấn E, huy n EK, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghi p: Không; Tr nh độ học ấn: 08/12; Con ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1970; Con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974. Hi n đều trú tại: thị trấn E, huy n EK, tỉnh Đắk Lắk; Bị cáo chưa c ợ, con; Tiền án, tiền s : Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi n i cư trú từ ngày 17/01/2020. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Đặng Thị Thu H1 (đã ch t)

Ngư i đại di n hợp pháp cho ngư i bị hại: Anh Đặng Đức P, sinh năm 1987. Địa chỉ: ã ET, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Chí L – sinh năm 1970. Địa chỉ: thị trấn E, huy n EK, tỉnh Đắk Lắk, c mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u c trong hồ s

án à diễn bi n tại tại phiên tòa, nội dung án được t m tắt như sau:

Nguyễn Chí N đã c giấy ph p lái e ô tô hạng B2 do S Giao thông Vận tải tỉnh Đ cấp ngày 10 tháng 9 năm 2019, có giá trị đ n ngày 10 tháng 9 năm 2029. Vào sáng ngày 01/11/2019, N điều khiển e ô tô nhãn hi u Ford Ranger, màu bạc, biển số 29H – 103.73, ch anh Liên Lâm Hoàng H2, anh Bùi Trung H3 à chị Đoàn Thị Thu T (cùng trú tại thị trấn E, huy n EK, tỉnh Đắk Lắk), đi từ huy n EK, tỉnh Đắk Lắk đ n địa bàn thành phố B để mua quần áo. Đ n khoảng 11 gi 34 phút cùng ngày, N điều khiển e ô tô biển số 29H – 103.73 ch cả nh m đi ề huy n EK, tỉnh Đắk Lắk, lúc này anh H2 ngồi tại gh trước bên phải, chị T ngồi tại gh sau bên trái à anh H3 ngồi tại gh sau bên phải c a e ô tô. N điều khiển e lưu thông tại phần đư ng bên phải, theo hướng từ đư ng Đ, thành phố B đ n huy n KP, tỉnh Đắk Lắk. Đây là đoạn đư ng hai chiều thẳng, mặt đư ng được trải nh a bằng phẳng, chia thành hai phần đư ng bằng ạch s n đôi, liền n t à đứt n t, màu àng phân chia phần đư ng e chạy. Phần đư ng bên phải theo hướng từ đư ng Đ, thành phố B đ n huy n KP, tỉnh Đắk Lắk, rộng 6,70m và được chia thành hai làn đư ng bằng ạch s n n t đ n đứt quãng, trong đ : Làn đư ng bên phải rộng 2,95m, làn đư ng bên trái rộng 3,75m, tr i lúc này nắng, mặt đư ng khô ráo, mật độ phư ng ti n lưu thông trên đư ng b nh thư ng. Khi N điều khiển e ô tô biển số 29H – 103.73 ới tốc độ khoảng 70 - 80 km/h, đi đ n khu v c trước tr đi n số 474BMT/183 đư ng Quốc lộ 26, thuộc ã E, thành phố B, th thấy 01 chi c e mô tô (chưa rõ đặc điểm à ngư i điều khiển) đang lưu thông tại phần đư ng bên phải theo hướng cùng chiều ới e ô tô. Lúc này, N thấy c một con ch chạy qua đư ng từ làn đư ng bên trái qua trước đầu e ô tô do N điều khiển. Thấy ậy, N đã đánh tay lái e ô tô sang trái để tránh, nhưng do đang lưu thông ới tốc độ nhanh, nên đã để e lao lên ta luy à phần lề đư ng đất bên trái theo hướng đi. Cùng lúc này, chị Đặng Thị Thu H1 (sinh năm 1991, trú tại: ã E, thành phố B) đang đứng trên lề đư ng bên trái, cùng chiều theo hướng đi c a e ô tô biển số 29H – 103.73. Do không làm ch được tốc độ và tay lái, N không kịp lý để tránh nên đã để phía trước e ô tô biển số 29H – 103.73 tông ào ngư i chị H1, gây ra tai nạn giao thông. Sau đ , chị H1 được ngư i dân đưa đi cấp cứu tại B nh i n đa khoa ùng TN, đ n ngày 02/11/2019 th t ong, e ô tô biển số 29H – 103.73 bị hư hỏng.

Hi n trư ng n i ảy ra tai nạn: Xảy ra tại khu c trước tr đi n số 474BMT/183 đư ng Quốc lộ 26, thuộc ã E, thành phố B, đây là đoạn đư ng hai chiều thẳng, mặt đư ng được trải nh a bằng phẳng, rộng 13,05m, c ạch s n đôi, liền n t à đứt n t, màu àng phân chia phần đư ng e chạy. Phần đư ng bên phải theo hướng từ đư ng Đ, thành phố B đ n huy n KP, tỉnh Đắk Lắk, rộng 6,70m à được chia thành hai làn đư ng bằng ạch s n n t đ n đứt quãng, trong đ : Làn đư ng bên phải rộng 2,95m, làn đư ng bên trái rộng 3,75m. Hai bên ngoài mặt đư ng nh a là rãnh thoát nước rộng 0,30m, ta luy chỗ thấp nhất cao bằng mặt đư ng nh a, chỗ cao nhất cách mặt đư ng nh a 0,20m à lề đư ng c độ rộng không cố định. Ngoài mặt đư ng bên phải, theo hướng từ đư ng Đ, thành phố B đ n huy n KP, tỉnh Đắk Lắk, là lề đư ng đất không c nhà dân sinh sống, ngoài mặt đư ng bên trái theo cùng hướng mặt lề đư ng được nhiều nhà dân trải i măng. Hi n trư ng tai nạn giao thông ảy ra tại phần đư ng bên trái à tại lề đư ng bên trái đư ng Quốc lộ 26, thuộc ã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, không c chướng ngại ật che khuất tầm nh n ngư i tham gia giao thông. Quá tr nh khám nghi m hi n trư ng, lấy hướng từ đư ng Đ, thành phố B đ n huy n KP, tỉnh Đắk Lắk, làm hướng chu n; lấy m p đư ng bên trái đư ng Quốc lộ 26, tính theo hướng chu n làm m p đư ng chu n; lấy phía dưới tr đi n số 474 BMT/183 ngoài mặt đư ng bên trái tính theo hướng chu n làm mốc cố định; lấy hướng Bắc làm hướng chính thể hi n trên s đồ hi n trư ng, lấy đ n ị đo là mét (m).

Xe ô tô biển số 29H – 103.73 (ký hi u 1), do Nguyễn Chí N điều khiển: Sau khi ảy ra tai nạn e đỗ tại hi n trư ng, tại lề đư ng bên trái, tính theo hướng đi c a e. Đầu e quay ra ngoài mặt đư ng à h i ch ch ề hướng huy n KP (hướng Đông Nam), đuôi e quay ào hướng các nhà dân à h i ch ch ề hướng đư ng Đ (hướng Tây Bắc). Tâm m p ngoài lốp bánh e trước, bên phải đo ào m p đư ng chu n 0,10m à cách mốc cố định 14,50m, tâm m p ngoài lốp bánh e sau, bên phải đo ào m p đư ng chu n 1,55m.

Dấu t để lại tại hi n trư ng:

V t máu, c kích thước (0,50 0,20)m (ký hi u 2): Tâm t đo ào m p đư ng chu n 9,75m à cách tâm m p ngoài lốp bánh e sau, bên phải e (1) 38,70m.

Tư ng được ây bằng gạch (ký hi u 3): Đã bị ê dịch, không bằng phẳng, uông g c ới mặt đư ng, c kích thước (dài 2,00m, rộng 0,40m à cao 0,20m). Tâm ị trí gần nhất đo ào m p đư ng chu n 3,80m à cách tâm t (2) 27,20m.

V t chà lốp (ký hi u 4): Được thể hi n trên bề mặt taluy, c kích thước (1,10 0,05)m. Điểm đầu t trùng ới m p giao nhau giữa taluy à rãnh thoát nước, đo ào m p đư ng chu n 0,30m. Điểm cuối t cách m p giao nhau giữa taluy à rãnh thoát nước 0,20m, đo ào m p đư ng chu n 0,50m.

Vị trí a chạm đầu tiên: Giữa e ô tô biển số 29H - 103.73 (1) ới chị Đặng Thị Thu H1 được ác định tư ng ứng ới lề đư ng bên trái tính theo hướng chu n, đo ào m p đư ng chu n 6,60m, cách điểm đầu t (3) 7,90m, cách tâm t (2) 19,55m à cách tr cổng trước bên trái nhà chị Đặng Thị Thu H1 (tính theo hướng từ trong nhà ra đư ng Quốc lộ 26) là 4,80m.

Vật chứng được thu giữ: 01 chi c e ô tô biển số: 29H-103.73, nhãn hi u Ford Ranger, màu bạc, số máy: P5AT2540133, số khung: FF50JW788181; 01 giấy đăng ký e ô tô số 469294 à 01 giấy chứng nhận kiểm định số 6192166 c a e ô tô biển số: 29H-103.73; 01 giấy ph p lái e số 660177022599, hạng B2 c a Nguyễn Chí N, do S Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/9/2019 à 01 hồ s lái e gồm: Chứng chỉ s cấp c số hi u 27007 LXB-K292, 01 biên bản tổng hợp k t quả sát hạch lái e, 01 phi u theo dõi lái e c a Nguyễn Chí N.

Tại bản K t luận giám định pháp y ề t thi số: 376/ TTh-TTPY, ngày 21/11/2019, c a Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, k t luận nguyên nhân t ong c a chị Đặng Thị Thu H1: Ngưng hô hấp, tuần hoàn do choáng chấn thư ng không hồi ph c/ Chấn thư ng ng c - b ng nặng/ Nhiều chấn thư ng nặng do tai nạn giao thông.

Sau khi gây tai nạn, gia đ nh ông Nguyễn Chí L đã t nguy n bồi thư ng cho gia đ nh bị hại số tiền 200.000.000 đồng.

Tại bản án h nh s s th m số 152/2020/HS-ST, ngày 11/6/2020 c a Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quy t định: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật h nh s . Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh s ; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. X phạt: Nguyễn Chí N 01 năm 06 tháng tù. Th i hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhi m dân s : Buộc ông Nguyễn Chí L ch phư ng ti n phải bồi thư ng phải bồi thư ng cho ngư i đại di n hợp pháp cho bị hại tổng cộng 237.611.643 đồng khấu trừ số tiền ông Nguyễn Chí L ch phư ng ti n đã bồi thư ng 200.000.000 đồng, còn phải bồi thư ng là 37.611.643 đồng.

Ngoài ra, bản án s th m còn quy t định ề lý ật chứng, án phí à quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Ngày 22/6/2020, bị cáo Nguyễn Chí N kháng cáo in được hư ng án treo. Cùng ngày, đại di n hợp pháp c a bị hại ông Đặng Đức P kháng cáo đề nghị cấp phúc th m t lại tăng h nh phạt đối ới bị cáo à tăng mức bồi thư ng thi t hại.

Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo Nguyễn Chí N giữ nguyên nội dung kháng cáo à khai nhận toàn bộ hành i phạm tội mà bị cáo th c hi n c bản như nội dung bản cáo trạng à bản án h nh s s th m.

Ông Đặng Đức P giữ nguyên nội dung kháng cáo à đề nghị Hội đồng t

phúc th m em t tăng h nh phạt đối ới bị cáo à tăng mức bồi thư ng thi t hại.

Quá tr nh tranh luận tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ, hành i phạm tội c a bị cáo à khẳng định bản án s th m c a Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột t bị cáo Nguyễn Chí N ề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật h nh s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) là c căn cứ, đúng ngư i, đúng tội. Xét mức h nh phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp s th m

phạt đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo c nhiều t nh ti t giảm nhẹ như: Thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, bồi thư ng thi t hại; bị cáo c nhân thân tốt, c n i cư trú rõ ràng, không c t nh ti t tăng nặng trách nhi m h nh s . Nên đề nghị HĐXX chấp nhận đ n kháng cáo c a bị cáo để phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, th i gian th thách là 03 năm.

X t kháng cáo c a ngư i đại di n hợp pháp cho bị hại đề nghị tăng h nh phạt à tăng mức bồi thư ng là không c căn cứ nên không chấp nhận.

Do ậy, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật h nh s để s a một phần bản án s th m:

Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật h nh s :

X phạt bị cáo Nguyễn Chí N 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, th i gian th thách là 03 năm.

Về trách nhi m dân s : Buộc ông Nguyễn Chí L ch phư ng ti n phải bồi thư ng phải bồi thư ng cho ngư i đại di n hợp pháp cho bị hại tổng cộng 237.611.643 đồng khấu trừ số tiền ông Nguyễn Chí L ch phư ng ti n đã bồi thư ng 200.000.000 đồng, còn phải bồi thư ng là 37.611.643 đồng.

Các quy t định khác c a bản án s th m không c kháng cáo, kháng nghị đã c hi u l c pháp luật, kể từ ngày h t th i hạn kháng cáo kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa g , chỉ đề nghị Hội đồng t

em t cho bị cáo được hư ng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung án, căn cứ ào các tài li u trong hồ s

án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

X t l i khai c a bị cáo tại phiên toà phúc th m là phù hợp ới l i khai c a bị cáo tại c quan điều tra, tại phiên toà s th m à các tài li u, chứng cứ trong hồ s

án, c đ c s k t luận: Vào khoảng 11 gi 34 phút ngày 01/11/2019, Nguyễn Chí N đã c giấy ph p lái e hạng B2 điều khiển xe ô tô biển số: 29H-103.73, lưu thông trên đư ng Quốc lộ 26 hướng từ đư ng Đ, thành phố Buôn Ma Thuột đ n huy n KP, tỉnh Đắk Lắk. Khi lưu thông đ n khu c trước tr đi n số 474BMT/183 đư ng Quốc lộ 26, thuộc ã E, thành phố B, Nguyễn Chí N điều khiển e ô tô chạy ới tốc độ khoảng 70-80km/h, do không làm ch được tốc độ à tay lái, nên để e ô tô leo lên lề đư ng bên trái theo hướng đi, tông trúng chị Đặng Thị Thu H1 đang đứng trên lề đư ng, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả chị Đặng Thị Thu H1 t ong, lỗi hoàn toàn thuộc ề bị cáo. Do đ , bản án s th m đã phạt bị cáo Nguyễn Chí N ề tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật h nh s là c căn cứ, đảm bảo đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

X t mức h nh phạt 01 năm 06 tháng tù mà bản án s th m đã tuyên đối ới bị cáo, Hội đồng t nhận thấy:

Bị cáo là ngư i c đầy đ nhận thức à năng l c hành i để bi t được i c điều khiển phư ng ti n tham gia giao thông đư ng bộ phải tuân th các quy định c a pháp luật ề an toàn giao thông đư ng bộ. Nhưng do ý thức coi thư ng pháp luật, không làm ch được tốc độ à tay lái, nên để e ô tô leo lên lề đư ng bên trái theo hướng đi gây ra tai nạn giao thông dẫn đ n nạn nhân t ong.

Sau khi gây án bị cáo tác động ch phư ng ti n (bố bị cáo) đã bồi thư ng thi t hại 200.000.000 đồng cho ngư i bị hại. Sau khi t s th m, bị cáo ti p t c tác động ch phư ng ti n bồi thư ng h t số tiền còn lại (37.611.643 đồng) theo bản án s th m đã tuyên tại C quan thi hành án dân s thành phố B, đây là t nh ti t giảm nhẹ trách nhi m h nh s mới thể hi n bị cáo đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải ề hành i phạm tội c a m nh. X t thấy, mặc dù bị cáo không c t nh ti t tăng nặng trách nhi m h nh s à c nhiều t nh ti t giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh s , tuy nhiên tai nạn ảy ra lỗi hoàn toàn do bị cáo à mức án mà cấp s th m đã tuyên đối ới bị cáo là tư ng ứng ới tính chất mức độ cũng như hậu quả do hành i phạm tội c a bị cáo gây ra, do đ Hội đồng t không chấp nhận kháng cáo in hư ng án treo c a bị cáo.

Như đã nhận định trên, mức h nh phạt cấp s th m đã tuyên 01 năm 06 tháng tù đối ới bị cáo là phù hợp. V ậy, i c ngư i đại di n c a bị hại kháng cáo đề nghị tăng h nh phạt đối ới bị cáo không c căn cứ để chấp nhận.

X t kháng cáo c a đại di n hợp pháp bị hại đề nghị tăng bồi thư ng, th thấy:

Bản án s th m đã tuyên buộc ông Nguyễn Chí L phải bồi thư ng cho gia đ nh bị hại tổng số tiền 237.611.643 đồng bao gồm: Chi phí điều trị 20.811.643 đồng; Thu nhập bị mất c a ngư i bị hại à hai ngư i chăm s c 300.000 đồng/ngày 3 ngư i 2 ngày = 1.800.000 đồng; Chi phí e đưa nạn nhân ề nhà 1.000.000 đồng; Chi phí mai táng 65.000.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 100 tháng lư ng = 149.000.000 đồng. Đây là những chi phi th c t à phù hợp ới các quy định c a pháp luật, do đ bản án s th m tuyên buộc ông Nguyễn Chí L là ch phư ng ti n phải bồi thư ng là c căn cứ.

Các chi phí như: Chi phí ây mộ 93.000.000 đồng; chi phí m c a mả 15.000.000 đồng; chi phí mất thu nhập c a 10 ngư i 03 ngày làm tang lễ = 6.000.000 đồng; chi phí bồi dưỡng hi n máu 2.000.000 đồng; thi t hại do nạn nhân đang ây d ng c s kinh doanh thuốc tây 100.000.000 đồng; chi phí học cao đẳng dược c a nạn nhân 46.500.000 đồng. Tổng cộng: 262.500.000 đồng, là không phù hợp ới quy định c a pháp luật nên bản án cấp s th m đã không tuyên buộc bồi thư ng là c căn cứ.

Quá tr nh chu n bị t phúc th m, ngư i đại di n c a bị hại không cung cấp thêm các chứng cứ, tài li u mới liên quan đ n yêu cầu bồi thư ng ngoài phần bản án s th m đã tuyên, do đ Hội đồng t không c căn cứ để chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng bồi thư ng.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí h nh s phúc th m.

Các quy t định khác c a bản án s th m không c kháng cáo, kháng nghị đã c hi u l c pháp luật kể từ ngày h t th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ ào điểm a khoản 1 Điều 355 à Điều 356 Bộ luật Tố t ng H nh s : Không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo Nguyễn Chí N à ngư i đại di n hợp pháp c a bị hại, giữ nguyên bản án s th m.

[1] Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật h nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017:

X phạt bị cáo Nguyễn Chí N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù ề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, th i hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Về trách nhi m dân s : Căn cứ Điều 48 Bộ luật H nh s năm 2015, các Điều 584, 585 à Điều 591 à Điều 601 Bộ luật Dân s . Buộc ông Nguyễn Chí L ch phư ng ti n phải bồi thư ng tổng cộng các khoản là: 237.611.643 đồng khấu trừ số tiền ông Nguyễn Chí L ch phư ng ti n đã bồi thư ng 200.000.000 đồng, còn phải bồi thư ng là 37.611.643 đồng (đã nộp tại Chi c c Thi hành án Dân s thành phố B).

Ti p t c tạm giữ số tiền 37.611.643 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2018/0000451 ngày 13/7/2020 c a Chi c c Thi hành án dân s thành phố B để đảm bảo công tác thi hành án.

[3] Về án phí:

Án phí s th m: Bị cáo Nguyễn Chí N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí h nh s phúc th m.

Ông Nguyễn Chí L phải chịu 1.880.852 đồng án phí dân s s th m (Được khấu trừ số tiền 1.880.852 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai thu số AA/2018/0000452 ngày 13/6/2020).

[4] Các quy t định khác c a bản án s th m không c kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã c hi u l c pháp luật, kể từ ngày h t th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m c hi u l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ