- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "226 B - T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 226/2026/HNGĐ-ST Ngày 24-8-2026 “V/v Ly hôn giữa bà B và ông T” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và bà Trần Thị Mộng Lành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 367/2026/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2026 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 228/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp Đ1, xã Đ, tỉnh An Giang. (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Đặng Hữu T], sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp D (nay ấp Đ1), xã Đ, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án bà Nguyễn Thị B trình bày như sau:
Bà B và ông T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và thực hiện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã Đ, tỉnh An Giang) vào ngày 28/11/2000.
Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, vợ chồng có cách suy nghĩ và quan điểm sống khác nhau từ việc nhỏ đến việc lớn đều không tìm được tiếng nói chung. Tiền bạc làm ra ông T đều sử dụng cá nhân để chơi cờ bạc thậm chí còn bán cả tài sản của gia đình để chơi cờ bạc. Đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cự cãi bất đồng, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên vợ chồng đã tự sống ly thân với nhau khoảng 10 năm và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bà B đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà B xác định vợ chồng có 01 người con chung tên Đặng Phương N, sinh ngày 03/7/2006 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Bà B xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn ông Đặng Hữu T vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của bà Biết.
Thu thập chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), giấy căn cước (bản công chứng), giấy khai sinh của con chung vợ chồng. Bị đơn không cung cấp chứng cứ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định. Ông T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà B được ly hôn với ông T; về con chung đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không đề cặp đến vấn đề nuôi dưỡng; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã Đông Thái, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang.
Quan hệ pháp luật: Bà B yêu cầu ly hôn với ông T nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn”.
Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên toà: Ông T được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung vụ án
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà B, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Hữu T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã Đ, tỉnh An Giang) theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án, có cơ sở để xác đời sống hôn nhân của bà B và ông T đã phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mỗi người đều có cách suy nghĩ và quan điểm sống khác nhau nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, bất đồng không thể dung hòa được, ngoài ra ông T còn tham gia cờ bạc làm ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình khiến gia đình không hạnh phúc. Vợ chồng đã tự sống ly thân khoảng 10 năm, không ai có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất xử giải quyết cho bà B ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà B và ông T có một người con chung tên Đặng Phương N, sinh ngày 03/7/2006 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét đến trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng.
Về tài sản chung của vợ chồng: Bà B xác định không có, các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung của vợ chồng: Bà B xác định không có, không ai khác có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà B là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;
- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị B.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Hữu T.
2. Về con chung: Con chung của bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Hữu T tên Đặng Phương N, sinh ngày 03/7/2006 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét đến trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị B xác định không có, các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị B không có yêu cầu, không ai khác có yêu cầu nên không xem xét.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bt có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002338 ngày 10/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị B đã nộp đủ án phí.
6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 8 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự"./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 7- An Giang; - Phòng THADS khu vực 7- An Giang; - UBND xã Đông Thái; - Các đương sự; - Lưu, HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thơm |