vanban.org

Bản án 226/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Mỹ T. Bà Bùi Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 12/06/2017 cho bà Bùi Thị Mỹ T được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Văn T1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị Mỹ T ly hôn với ông Nguyễn Văn T1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Mỹ T. Bà Bùi Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 07 - 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Phi Hổ

2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên , tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy– Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 157/2024/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 05 năm 2024; Thông báo dời thời gian xét xử số 412/TB-TA ngày 21/05/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 255/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/06/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mỹ T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Khu C, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu C, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng bà Bùi Thị Mỹ T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện đến với nhau vào năm 2016, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 24/10/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi nhau. Nhiều lần vợ chồng hàn gắn nhưng không được. Nay bà xác định tình cảm đã không còn, không thể chung sống với nhau được nữa, cuộc sống chung trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà T xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.

- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 12/06/2017. Ly hôn, bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 vì hiện cháu đang sinh sống ổn định cùng với bà. Tạm thời bà T không yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về Nợ chung: Bà T cam kết vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà T xin tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Văn T1 nhưng ông Nguyễn Văn T1 không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Bùi Thị Mỹ T và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời ông Nguyễn Văn T1 đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn T1 không đến Tòa án làm việc.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Bùi Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T1 không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Mỹ T. Bà Bùi Thị Mỹ T khai có 01 con chung là cháu Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 12/06/2017. Ly hôn bà T xin được trực tiếp nuôi con. Tạm thời bà T không yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai, cháu Nguyễn Trọng T2 trình bày có nguyện vọng ở với mẹ là bà Bùi Thị Mỹ T và bà Bùi Thị Mỹ T cũng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, ông Nguyễn Văn T1 không có ý kiến về con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 12/06/2017 cho bà Bùi Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và tạm thời ông Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Bùi Thị Mỹ T khai không có tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Văn T1 cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Bà Bùi Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T1 hiện đang sinh sống tại thành phố B nên đơn xin ly hôn của Bà Bùi Thị Mỹ T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn T1: “Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”, “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Nguyễn Văn T1 vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Nguyễn Văn T1 đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải được. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo dời thời gian xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Nguyễn Văn T1 cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn T1 vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T1 theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Bùi Thị Mỹ T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về nội dung tranh chấp: Bà Bùi Thị Mỹ T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T1. Về con chung bà Bùi Thị Mỹ T khai có 01 con chung là cháu Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 12/06/2017. Về tài sản chung không có và bà T cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông T1 đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Nguyễn Văn T1 không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Bùi Thị Mỹ T thì thấy cuộc sống chung của ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị Mỹ T đã không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tại kết quả xác minh địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 thì giữa hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn hay không địa phương không nắm rõ. Nhưng trên thực tế, bà Bùi Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T1 không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải cho ông Nguyễn Văn T1 để tiến hành hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn T1 không đến, cho thấy ông Nguyễn Văn T1 không có thiện chí đoàn tụ với bà Bùi Thị Mỹ T. Do vậy yêu cầu của bà Bùi Thị Mỹ T về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T1 là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Bùi Thị Mỹ T khai có 01 con là cháu Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 12/06/2017. Ly hôn, bà Bùi Thị Mỹ T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 vì hiện cháu đang sinh sống ổn định cùng với bà Bùi Thị Mỹ T. Tạm thời bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Văn T1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trọng T2 cho bà Bùi Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Do bà Bùi Thị Mỹ T không yêu cầu nên ông Nguyễn Văn T1 tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị Mỹ T khai không có và ông Nguyễn Văn T1 không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của bà Bùi Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T1 trong vụ án này.

[4] Về án phí: Bà Bùi Thị Mỹ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 119 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Mỹ T. Bà Bùi Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 12/06/2017 cho bà Bùi Thị Mỹ T được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn T1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: Bà Bùi Thị Mỹ T khai không có và ông Nguyễn Văn T1 không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của bà Bùi Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T1 trong vụ án này.

4. Về án phí: Bà Bùi Thị Mỹ T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Bùi Thị Mỹ T đã nộp theo biên lai thu số: 0002100 ngày 08/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Bùi Thị Mỹ T đã nộp đủ án phí.

Bà Bùi Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ