vanban.org

Bản án 226/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng V:

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn ông Nguyễn Hữu C. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Như T1 (nữ) sinh ngày 18/02/2017 cho bà Nguyễn Thị Hồng V nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành; giao con chung Nguyễn Hữu B (nam) sinh ngày 06/7/2018 cho ông Nguyễn Hữu C nuôi dưỡng đến trưởng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng V tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng V:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HNGĐ-ST
Ngày:
05-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Sang.

2. Bà Nguyễn Thị Diễm Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: bà Mai Thị Thìn- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1998 (Vắng mặt, có đơn).

Địa chỉ: Xóm M, thôn A, xã B, huyện T, Bình Định.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1993 (Vắng mặt lần 02).

Địa chỉ: Thôn S, xã TA, huyện T, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày: bà và ông Nguyễn Hữu C tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, được hai bên gia đình chấp nhận tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục vào ngày 26/3/2016. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã TA vào ngày 20/3/2017. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do ông C không chăm chỉ làm ăn mà rượu chè về nhà gây sự đánh đập bà. Từ năm 2018 vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy không còn tình cảm yêu thương gì, bà yêu C ly hôn ông C.

Về con chung: bà và ông C có 02 con chung là Nguyễn Thị Như T1 (nữ) sinh ngày 18/02/2017 hiện đang sống cùng bà và Nguyễn Hữu B (nam) sinh ngày 06/7/2018 hiện đang sống cùng ông C. Khi ly hôn bà yêu C nhận nuôi con chung Nguyễn Thị Như T1 đến trưởng thành; giao con chung Nguyễn Hữu B cho ông C nuôi dưỡng đến trưởng thành; không bên nào phải phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu C Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn là ông Nguyễn Hữu C vắng mặt không có lý do: ông Nguyễn Hữu C đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu C đối với vụ án.

Biên bản xác minh ngày 27/6/2024, Công an xã TA cung cấp: ông Nguyễn Hữu C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm Z, thôn S, xã TA, huyện T, Bình Định; ông C đi làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh thỉnh thoảng vẫn về sinh sống tại địa chỉ nêu trên; chưa cắt khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đa phần đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên còn có một vài vi phạm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: đề nghi ̣ HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: bà Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn ông Nguyễn Hữu C. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Thị Như T1 (nữ) sinh ngày 18/02/2017 cho bà Nguyễn Thị Hồng V nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành; giao con chung Nguyễn Hữu B (nam) sinh ngày 06/7/2018 cho ông C nuôi dưỡng đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: không yêu C nên miễn xét; về tài sản chung: không yêu C Tòa giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn là ông Nguyễn Hữu C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng V với ông Nguyễn Hữu C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TA vào ngày 20/3/2017 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do ông C không chăm lo làm ăn mà sa đà rượu chè về đánh đập bà V nhiều lần. Bà V đã cố gắng để chung sống nhưng tình hình không tiến triển. Hai bên đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau từ năm 2018. Vợ chồng xa cách đã lâu nhưng hai bên vẫn bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà V yêu cầu ly hôn với ông C là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.

Về con chung: bà V và ông C có 02 con chung là Nguyễn Thị Như T1 (nữ) sinh ngày 18/02/2017 hiện đang sống cùng bà và Nguyễn Hữu B (nam) sinh ngày 06/7/2018 hiện đang sống cùng ông C. Bà V yêu C nhận nuôi con chung Nguyễn Thị Như T1 đến trưởng thành; giao con chung Nguyễn Hữu B cho ông C nuôi dưỡng đến trưởng thành. HĐXX xét thấy yêu C của bà V là phù hợp với nguyện vọng của con chung (Nguyễn Thị Như T1 muốn sống cùng với mẹ), phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đảm B cho sự phát triển toàn diện của trẻ, nghị nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu C cấp dưỡng nuôi nên HĐXX không xét.

Về tài sản chung: không yêu C Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc bà Nguyễn Thị Hồng V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước.

Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng V:

- Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn ông Nguyễn Hữu C.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Như T1 (nữ) sinh ngày 18/02/2017 cho bà Nguyễn Thị Hồng V nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành; giao con chung Nguyễn Hữu B (nam) sinh ngày 06/7/2018 cho ông Nguyễn Hữu C nuôi dưỡng đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu C nên Tòa không xét.

Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu C thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu C giải quyết nên Tòa không xét.

2/ Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Hồng V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai số 0003682 ngày 25/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà V đã nộp đủ án phí.

3/ Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

4/ Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu C thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ