vanban.org

Bản án 226/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn L về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với chị Trần Thị H.

Về án phí: Anh Lê Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh Luyện đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002575, ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn Luyện - Trần Thị Hường tranh chấp HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn L về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với chị Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2022
Về việc: "Yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Đại

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Luyện và Nguyễn Văn Đương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa:

Bà Phan Thị Thuỳ Dung- chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2022/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022, về việc: "Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con".

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số số: 105/2022/QĐXX-ST ngày 17 tháng 8 năm 2022.

Nguyên đơn: Anh Lê Văn L, Sinh năm: 1988

Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện Th, tỉnh N - Có mặt.

Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1996

Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh N- Vắng mặt ( có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải không thành nguyên đơn anh Lê Văn L trình bày: Anh Lê Văn L và chị Trần Thị H thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 09/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Căn cứ nội dung Quyết định này thì anh L và chị H thoả thuận chị H được quyền trực tiếp nuôi con tên Lê Trần Trúc L, sinh ngày 09/12/2017. Anh Lê Văn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Trần Thị H mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Do khi ly hôn, cháu Lê Trần Trúc L chưa đủ 36 tháng tuổi nên anh L thoả thuận để cho chị H trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, chị H không trực tiếp chăm sóc con chung mà giao con cho ông bà ngoại trực tiếp nuôi dưỡng để đi làm ăn ở Bình Dương. Trong quá trình ông bà ngoại trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Linh thì anh L đến thăm con và xin đón con về bên Nội chơi thì chị H và người thân trong gia đình chị H gây khó dễ, cản trở anh L thực hiện quyền làm cha của mình. Đồng thời, trong thời gian ông bà ngoại nuôi con nuôi cháu L thì cũng trực tiếp chăm sóc thêm 05 cháu nhỏ nữa, công việc ông bà ngoại luôn bận, không có thời gian nên dẫn đến việc chăm cháu L không chu đáo đến sức khoẻ cháu không được tốt, thiếu tình cảm của bố mẹ dẫn đến cháu L sợ sệt, trầm tính, nhút nhát, và dễ dẫn đến hư hỏng.

Do đó, để đảm bảo cháu Lê Trần Trúc L được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường tốt, anh Lê Văn L làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con và giao cho anh L được trực tiếp chăm sóc con chung chấu Lê Trần Trúc L.

Tại phiên toà, chị Trần Thị H vắng mặt nhưng theo bản tự khai và ý kiến tại các biên bản hoà giải bị đơn là chị Trần Thị H trình bày:

Từ khi chị Trần Thị H được Tòa án giao quyền trực tiếp nuôi con chung Lê Trần Trúc L thì do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp nên để đảm bảo điều kiện tốt cho cháu thì chị đã gửi về quê để ông bà ngoại tại xóm Long Thọ, xã Hiến Sơn trực tiếp chăm sóc cho đến nay. Trong quá trình cháu L sinh sống với ông bà ngoại thì cháu L vẫn được ông bà ngoại nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo và đưa đi học tại trường mẫu giáo tại địa phương, bản thân cháu phát triển bình thường. Đến nay sau khi anh L làm đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp chăm sóc cháu L thì chị H đã đưa cháu L vào Miền Nam chăm sóc và học tập. Việc anh L cho rằng chị và người thân trong gia đình anh có hành vi cản trở, gây khó khăn khi anh L đến thăm và đón con chung là không có. Hơn nữa, trong quá trình chị H nuôi con, anh L không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng, quá trình chị và ông bà ngoại sang xin chuyển khẩu cho cháu L để cháu L được nhập học tại địa phương thì gia đình anh L ngăn cản, gây khó khăn làm ảnh hưởng đến cháu L. Do vậy chị H không đồng ý giao con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên Lê Văn L về việc: “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” được quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Theo xác nhận đề ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Công an xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương thì bị đơn Trần Thị H và cháu Lê Trần Trúc L hiện có hộ khẩu đăng ký thường trú và cư trú tại xóm L, xã H nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương theo trình tự sơ thẩm

Về nội dung giải quyết: Xem xét, giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh Lê Văn L, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Thứ nhất, anh Lê Văn L cho rằng chị Trần Thị H và người thân trong gia đình chị H là ông bà ngoại cản trở, gây khó khăn cho anh khi đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, anh Lê Văn L có cung cấp cho Toà án 01 chiếc USB gồm các File ghi âm với các nội dung tiêu đề như "mẹ không ở với con"; "bé L đòi uống sữa nhưng bà ngoại không nghe"; "Bé L đòi về ở với bố"; kèm theo một số bức ảnh cháu Linh đang chơi với nhiều cháu bé khác và chị Trần Thị H không thừa nhận việc chị và gia đình cẩn trở anh L thăm nom con chung.Những tài liệu chứng cứ trên anh L cung cấp chưa có căn cứ cho rằng chị H và người thân ngăn cản anh L thăm nom chăm sóc con chung.

- Thứ hai, anh L và chị H thỏa thuận chị H trực tiếp nuôi con nhưng hiện tại chị Hường đi làm ở Bình Dương, để con cho ông bà ngoại chăm sóc không chu đáo dẫn đến việc cháu bị nhút nhát, sợ sệt, trầm tính. Để chứng minh cho việc này, anh L cung cấp cho Toà án File ghi âm với tiêu đề "Bé L sợ sệt đòi về với bố", đây là nội dung anh L và cháu L trực tiếp nói chuyện với nhau . Tuy nhiên, chứng cứ này không đủ căn cứ cho rằng sức khoẻ, tinh thần của cháu L bị ảnh hưởng, mà bản thân cháu vẫn được chăm sóc chu đáo, đảm bảo về sức khỏe thể chất và tinh thần.

- Thứ ba, hiện tại về thu nhập cá nhân thì anh L chứng minh được anh có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con nhưng sau khi ly hôn anh Lê Văn L không thực hiện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cho chị Trần Thị H đã vi phạm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quyết định của Toà án. Do vậy, anh Luyện chưa có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con chung.

- Thứ tư, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Đô Lương đã tiến hành xác minh về tình trạng sức khoẻ, học tập của cháu Linh khi được ông bà ngoại của cháu là ông Trần Đăng L và bà Nguyễn Thị L chăm sóc đầy đủ từ việc sinh hoạt hàng ngày cũng như việc học tập, không có vấn đề gì về tâm lý, sức khoẻ đối với cháu L do bị hành hạ, ngược đãi và hiện tại cháu L đã được chị Trần Thị H đưa vào tỉnh Bình Dương để chăm sóc nuôi dưỡng và học tập.

Đối với ý kiến trình bày, tài liệu chứng cứ của chị Trần Thị H cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với việc chị Trần Thị H giao con cho bố mẹ ruột ông Trần Đăng L và bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc trong thời gian dịch bệnh Covid -19 đang diễn biến phức tạp là phù hợp và đảm bảo được tốt nhất sức khoẻ cho cháu L.

- Chị Trần Thị H cung cấp bảng sao kê thu nhập, giấy xác nhận của Trường học nơi cháu L đang học, như vậy chứng minh chị H hiện tại đang có đủ điều kiện để chăm sóc con chung đảm bảo về sức khỏe, cũng như môi trường học tập, giáo dục cho sự phát triển của cháu L.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh Lê Văn L là không có cơ sở theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn L về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

. Về án phí : Anh Lê Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn L về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với chị Trần Thị H.

2. Về án phí: Anh Lê Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh Luyện đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002575, ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ