vanban.org

Bản án 226/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Nam Tuyên án 26/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng: điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn P 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 05/3/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2020/HS-PT
Ngày: 26 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Cẩm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Thiện

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 180/2020/HS-PT ngày 01 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn P. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2020/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn P, sinh năm 1962; nơi cư trú: Tổ T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: Lớp 2/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Ngô Thị Kim L, sinh năm 1974 và có 01 con sinh năm 2000.

Tiền án: Ngày 22/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam xử phạt 05 năm tù theo bản án số 04/2015/HSST về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 05/10/2018.

Tiền sự: ngày 26/4/2019 bị Công an thị trấn T, huyện B, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã nộp phạt vào ngày 09/5/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2020; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ ngày 04/3/2020, bị cáo Nguyễn P điều khiển xe mô tô xuống xã T, huyện T để mua ma túy. Khi đến ngã ba Cụ Huỳnh, bị cáo đi vào quán nước và nhìn thấy hai thanh niên không rõ lai lịch cũng đang ngồi uống nước tại đây. Lúc này, bị cáo phát hiện hai thanh niên này có dấu hiệu tiêm chích ma túy nên bị cáo đi đến hỏi chuyện và dò hỏi việc mua ma túy thì được hai thanh niên này đồng ý giúp bị cáo. Cả ba người ngồi tại quán uống nước được một lúc thì có một người thanh niên đi xe mô tô nhãn hiệu Win đến. Lúc này, hai thanh niên nói với bị cáo là “có rồi đó chú” rồi hai thanh niên đi đến chỗ người thanh niên vừa đi xe Win tới. Khoảng vài phút sau, hai người thanh niên quay lại chỗ bị cáo và hỏi bị cáo có bao nhiêu tiền. Bị cáo nói là có 9.000.000 đồng và nhờ hai thanh niên này mua ma túy cho bị cáo. Một người thanh niên cầm tiền đi trước, còn một người thanh niên đi sau cùng với bị cáo. Khi người thanh niên đi trước đến chỗ người thanh niên đi xe Win cách bị cáo khoảng 10m thì bảo bị cáo và người thanh niên đi sau cùng bị cáo dừng lại. Sau đó người thanh niên cầm tiền đi trước quay lại và đưa cho bị cáo 03 gói ma túy. Trong đó có 02 gói bằng nhau và 01 gói nhỏ hơn. Khi nhận ma túy bị cáo có lấy ra một nữa ma túy từ gói nhỏ nhất đưa cho hai thanh niên rồi đi về lại nhà mình tại thị trấn T.

Sau khi ăn cơm xong, sợ ma túy mua được không gói kỷ sẽ bị ẩm dẫn đến hư hỏng nên bị cáo lấy ra gói lại. Sau khi gói xong bị cáo có trích ra một lượng nhỏ từ gói ma túy nhỏ nhất để sử dụng rồi cất giấu số ma túy này trong nhà và đi ngủ. Sáng hôm sau bị cáo tiếp tục trích một ít ma túy từ gói nhỏ nhất ra sử dụng rồi đem cất lại vị trí cũ. Đến khoảng 11 giờ ngày 05/3/2020, bị cáo đem toàn bộ số ma túy trên cất giấu vào lai ống quần thun bên phải rồi điều khiển xe mô tô chạy lên rẫy keo của gia đình tại khu vực xã T, huyện B để sử dụng thường xuyên trong thời gian làm rẫy. Trên đường đi đến khu vực thuộc thôn 3, xã T, huyện B thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại kết luận giám định số 06/PC09 ngày 10/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: 03 gói thu giữ trên người bị cáo Nguyễn P là ma túy, loại heroine, có tổng khối lượng là 7,931gam.

Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2020/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn P 07 (Bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 05/3/2020).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Vào ngày 29/7/2020, bị cáo Nguyễn P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 07 năm tù là có cơ sở, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn P khai nhận: Để có ma túy sử dụng cho bản thân, ngày 04/3/2020 bị cáo mua của hai người thanh niên không rõ lai lịch 03 gói ma túy với giá 9.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo đem số ma túy trên về nhà mình rồi chia nhỏ ra để sử dụng. Ngày 05/3/2020, bị cáo đem toàn bộ số ma túy trên cất giấu trong người rồi điều khiển xe máy chạy lên rẫy keo của gia đình để sử dụng, trên đường đi thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang; thu giữ trên người bị cáo 7,931 gam ma túy loại Heroine.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định khoa học hình sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn P đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine, có khối lượng 7,931 gam, với mục đích để sử dụng cho bản thân; đồng thời, trước đó bị cáo đã phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích nên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 28/7/2020 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Nguyễn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn P 07 năm tù là có cơ sở. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và xét thấy bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái pháp chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cùng tính chất nên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng: điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn P 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 05/3/2020).

2. Bị cáo Nguyễn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2020).

Cỡ chữ