vanban.org

Bản án 226/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Hồng D.

1. Về hôn nhân: Cho chị D được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. 2. Về con chung: Giao Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/02/2012 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra; anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Hồng D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2020/HNGĐ-ST
Ngày 17 – 9 – 2020
V/v tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hùng

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 376/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2020 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 415/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Hồng D, sinh năm 1993; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1982; cư trú tại: Ấp T3, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của chị Đoàn Hồng D, thể hiện:

Chị D và anh Nguyễn Minh T chung sống vào năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân hơn 03 năm nay. Từ nguyên nhân trên, chị D xác định tình trạng hôn nhân của anh, chị đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể hàn gắn nên xin ly hôn với anh T.

Quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/02/2012 do chị D đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi Minh K, việc cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản: Chị và anh T sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về các vấn đề khác: Không có.

* Đối với anh Nguyễn Minh T: Mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của chị D nhưng anh T không có ý kiến gì và không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Đoàn Hồng D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này là đúng quy định.

Chị D và anh T chung sống vào năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân hơn 03 năm nay. Từ nguyên nhân trên, chị D xác định tình trạng hôn nhân đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể hàn gắn nên xin ly hôn với anh T. Anh không có ý kiến về các nội dung và yêu cầu xin ly hôn của chị D.

Xét yêu cầu của chị D, thấy rằng: Chị D yêu cầu ly hôn nhưng qua các lần triệu tập hòa giải, xét xử anh T đều vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh T không có thiện chí hòa giải, hàn gắn; điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân của anh, chị đã trầm trọng và không thể hàn gắn trở lại nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị D ly hôn với anh T là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về con chung: Có 01 người do chị D đang nuôi, khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng; anh T không có ý kiến gì về vấn đề này.

Tại biên bản ghi nguyện vọng đối với Nguyễn Minh K thể hiện: Khi cha, mẹ ly hôn thì Minh K có nguyện vọng chung sống cùng với chị D.

Xét thấy, Minh K do chị D nuôi dưỡng từ khi anh, chị sống ly thân cho đến nay, việc chị D yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn phù hợp với nguyện vọng của Minh K nên để ổn định trong việc chăm sóc, giáo dục cần giữ nguyên cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp về vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản: Chị D xác định sẽ tự thỏa thuận với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về các vấn đề khác: Không có. Anh T không có ý kiến gì về các nội dung này nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp về các vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị D phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Hồng D.

1.1. Về hôn nhân: Cho chị D được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

1.2. Về con chung: Giao Nguyễn Minh K, sinh ngày 29/02/2012 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra; anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010917 ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (chị D đã nộp xong).

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ