vanban.org

Bản án 226/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Tô Thị Như Q được ly hôn với anh Nguyễn Huy T.

Giao cho chị Tô Thị Như Q trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Huy Minh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 đến khi thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Tô Thị Như Q xin ly hôn anh Nguyễn Huy T"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Tô Thị Như Q được ly hôn với anh Nguyễn Huy T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 11-11-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa.

Ông Phạm Văn Sóng.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 774/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tô Thị Như Q; nơi đăng lý hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Xóm V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy T; địa chỉ: Thôn 5, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Tô Thị Như Q là nguyên đơn, khởi kiện với nội dung chị và anh Nguyễn Huy T quen biết, phát sinh tình cảm và đi đến hôn nhân tự nguyện. Chị và anh T đã đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 12 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau lễ cưới, chị và anh T chung sống tại thôn 5, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong làm ăn kinh tế. Chị Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, đến năm 2018 về nước song tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Chị Q về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2015. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Huy T. Con chung giữa chị và anh T là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Huy Minh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012. Hiện nay, chị đang trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, chị và anh T không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản.

Anh Nguyễn Huy T là bị đơn, khai công nhận mối quan hệ hôn nhân, con chung giữa hai người đúng như lời khai của chị Q. Mâu thuẫn giữa vợ chồng có nguyên nhân như chị Q khai. Nay chị Q xin ly hôn, anh T đồng ý ly hôn. Anh đồng ý để chị Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung giữa hai người là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Huy Minh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012. Việc cấp dưỡng cho con để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, anh và chị Q không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản. Vì bận công việc không đến phiên tòa được nên anh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng theo Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đề nghị giao cháu Nguyễn Thị Thanh T và Nguyễn Huy Minh T cho chị Tô Thị Như Q trực tiếp nuôi dưỡng; người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng

Bị đơn là anh Nguyễn Huy T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu của chị Tô Thị Như Q ly hôn với anh Nguyễn Huy T

Chị Q và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, kết hôn giữa chị Q và anh T là hợp pháp. Xuất phát từ mẫu thuẫn vợ chồng, từ năm 2015, chị Q và anh T đã sống ly thân nhau. Đến nay, chị Q xin ly hôn, anh T đồng ý. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Q ly hôn với anh T.

Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Chị Q và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Huy Minh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012. Hiện nay con chung đang ở cùng với chị Q. Khi ly hôn, chị Q đề nghị để chị được tiếp tục nuôi con, anh T cũng đồng ý để chị Q trực tiếp nuôi con. Xét thấy, con chung được chị Q chăm sóc có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường; đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng với chị Q. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, điều kiện, hoàn cảnh của chị Q, của anh T, Hội đồng xét xử xét giao cho chị Tô Thị Như Q trực tiếp nuôi con là phù hợp.

Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T đề nghị anh và chị Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét việc không yêu cầu cấp dưỡng chị Q là tự nguyện, quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không buộc anh T phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, chị Tô Thị Như Q và anh Nguyễn Huy T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí, chị Tô Thị Như Q phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

- Cho chị Tô Thị Như Q được ly hôn với anh Nguyễn Huy T.

- Giao cho chị Tô Thị Như Q trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Huy Minh T sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 đến khi thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Chị Tô Thị Như Q phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0003049 ngày 01/10/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Tô Thị Như Q đã nộp đủ án phí.

- Chị Tô Thị Như Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Huy T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ