- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP A kiện chị Nguyễn Thị Khánh X"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL của Tòa án nhân dân Tối Cao;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 226/2019/DS-ST Ngày: 08/8/2019 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Vũ Hoài Phƣơng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Dƣơng Hiền Huệ;
2/ Ông Nguyễn Văn Vẹn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo,tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 08 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2019/TLST-DS ngày 06/3/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2019/QĐSTXX-DS ngày 04/7/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 229/2019/QĐST-DS ngày 23/7/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.
Địa chỉ: Lầu 8, 266-268, đường S, phường N, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh T - Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần A - Chi nhánh Long An.
Địa chỉ: 165 - 167 - 169, đường H, phường B, TP. Q, - tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Anh Trần Huỳnh Đông P – Chuyên viên quản lý nợ (theo văn bản ủy quyền ngày 21/01/2019) ( Có mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh X, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp O, xã E, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/01/2019, tại bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn là anh Trần Huỳnh Đông P trình bày: Vào ngày 10/5/2018, Ngân hàng có ký Hợp đồng với chị X, theo đó chị X được cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng thẻ là 15.000.000đồng, với mức lãi suất sử dụng thẻ là 1,25%/tháng, mục đích sử dụng thẻ là để tiêu dùng cá nhân.
Trong quá trình sử dụng thẻ, đến ngày 22/6/2018, chị X rút số tiền là 14.470.392 đồng và ngày 22/7/2018, rút số tiền là 58.930đồng. Tổng cộng 02 lần chị X rút số tiền là 14.529.322 đồng.
Từ lúc thực hiện việc rút tiền, chị X không trả cho Ngân hàng khoản tiền nào. Do đó, tính đến ngày 08/08/2019, chị X nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 16.629.379 đồng và tiền lãi quá hạn là 3.013.970 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần tìm chị X để thu hồi nợ nhưng không được.
Do đó, nay Ngân hàng yêu cầu chị X phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi quá hạn là 19.643.349 đồng.
* Phần trình bày ý kiến của bị đơn là chị Nguyễn Thị Khánh X: Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ từ phía chị X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A có đơn khởi kiện đối với chị Nguyễn Thị Khánh X. Chị X có địa chỉ tại địa bàn huyện C nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A khởi kiện chị X để tranh chấp Hợp đồng vay. Căn cứ vào Điều 463 Bộ Luật dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
. Về yêu cầu đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đối với chị X.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận định: Giao dịch vay tiền giữa Ngân hàng và chị X là có thật. Ngân hàng căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà các bên đã giao kết để đòi nợ đối với chị X.
Theo Hợp đồng hai bên đã giao kết, chị X phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền mà chị X sử dụng, lãi và phí. Chị X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán thỏa thuận mà hai bên đã giao kết nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần buộc chị X phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
Xét yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm của Ngân hàng là phù hợp với thỏa thuận mà hai bên đã giao kết.
Đối với chị X, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng nhưng phía chị X vẫn vắng mặt không lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên điều này cho thấy chị X đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với chị X, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng chị X vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị X.
Ngoài ra, theo Án lệ số 08/2016/AL của Tòa án nhân dân Tối Cao, kể từ ngày 09/8/2019 chị X còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà Ngân hàng và chị X đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi chị X thanh toán hết số tiền nợ gốc này.
. Do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A được chấp nhận nên Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 227; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 463 Bộ luật dân sự;
- Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng;
- Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL của Tòa án nhân dân Tối Cao;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.
Buộc chị Nguyễn Thị Khánh X có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền nợ gốc và lãi là 19.643.349 đồng.
Kể từ ngày 09/8/2019, chị X còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
2. Về án phí DSST:
2.1. Buộc chị Nguyễn Thị Khánh X phải chịu 982.167 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 430.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0015763 ngày 05/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng Thương mại Cổ phần A có quyền kháng cáo bản án, riêng chị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Tòa án nhân dân tỉnh TG; - VKSND H.Chợ Gạo; - Chi cục THADS H.Chợ Gạo; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu . | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Ngô Vũ Hoài Phương |