vanban.org

Bản án 226/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 11/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2019/DS-PT
Ngày: 11-11-2019
V/v:“Tranh chấp quyền sử dụng đất
và hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà

, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

:

, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 244/2019/TLPT-DS ngày 12 tháng 9 năm 2019; về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 17-7-2019

nhân dân tỉnh Gia Lai bị kháng cáo; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Từ G, sinh năm 1930; địa chỉ: Thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền:

, sinh năm 1979

Thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai (G

04/11/2019)

- Bị đơn: Bà Từ Thị P, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân thành phố P1, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: 81 đường H, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

ại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy H1 - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P1, tỉnh Gia Lai (Giấy ủy quyền số 27/GUQ-UBND ngày 17-10-2019).

+ Chị Từ Thị L, địa chỉ: Thôn 5, xã A, Thành phố P1, Gia Lai.

+ Chị Từ Thị H2, chị Từ Thị Hồng V, anh Từ Văn Tr, chị Từ Thị Hồng L1; cùng địa chỉ: Thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

+ Chị Từ Thị Hồng L1; địa chỉ: Thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

+ Ông Ngô Văn V1, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

+ Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H3; chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã A.

Địa chỉ trụ sở: Thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

:

G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Từ G trình bày:

Năm 1959, vợ chồng ông (và vợ là bà Nguyễn Thị S1) từ Bình Định lên xã AM (nay là xã A, thành phố P1) lập nghiệp có khai khẩn một mảnh đất tại thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai có diện tích hơn 7.000m2. Năm 1976 Hợp tác xã A đã động viên Ông hiến hơn một nửa diện tích, còn lại khoảng hơn 2.000 m2 vợ chồng Ông tiếp tục sử dụng trồng cà phê và hoa màu từ đó đến nay. Năm 2008, Ông đi làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được biết năm 1990 con gái ông là

đã được UBND thị xã P1, tỉnh Gia Lai - Kon Tum (nay là UBND thành phố P1, tỉnh Gia Lai) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên

với diện tích 945 m2. Vì vậy, Ông yêu cầu Tòa án buộc

và chồng là anh Ngô Văn V1 phải trả lại phần diện tích đất nói trên cho Ông và yêu cầu hủy quyết định số 63 ngày 06-07-1990 của UBND thị xã P1 về việc cấp

số A133000 ngày 6-7-1990 cho

theo Điều 32a Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Theo đơn phản tố và quá trình tham gia tố tụng, bị đơn

trình bày:

Trước giải phóng ông Từ G có khai hoang được một thửa đất, sau khi hiến vào hợp tác xã chỉ còn sử dụng hơn 2000 m2 và ông Từ G đã bán hết đất cho hai người. Năm 1987, Nhà nước có chủ trương cấp đất cho người dân chưa có nhà ở,

là nhân viên Cửa hàng mua bán của Hợp tác xã A nên làm đơn xin cấp đất và được Hợp tác xã A cấp 1.890 m2. Diện tích đất tranh chấp đứng tên

là một phần diện tích đất ông Từ G đã hiến cho hợp tác xã. Sau khi được giao đất, vợ chồng đào giếng, làm nhà, trồng cà phê, đến ngày 10/8/1989 được UBND thị xã P1, tỉnh Gia Lai-Kon Tum (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 297/GCNRĐ, công nhận có quyền sử dụng ruộng đất diện tích 1.890 m2. Do diện tích đất được cấp chồng lấn với diện tích đất ông Từ G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất, nên ngày 06/7/1990 UBND thị xã P1, tỉnh Gia Lai-KonTum (cũ) điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận công nhận ông Từ G được quyền sử dụng 945 m2 đất thuộc thửa số 39A, tờ bản đồ số 2 và Chị được công nhận quyền sử dụng 945 m2 theo

số A 133000, thuộc thửa số 39B, tờ bản đồ số 2. Sau khi được cấp

đất không ai khiếu nại thắc mắc gì, vợ chồng sử dụng ổn định.

Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2015/DS-ST ngày 29-9-2015 của Tòa án nhân dân thành phố P1 và bản án dân sự phúc thẩm số 27/2016/DS-PT ngày 04-5-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên xử công nhận quyền sử dụng diện tích 945m2 đất theo

số AI33000, thuộc thửa số 39B, tờ bản đồ số 2 là của ông Từ G, nên ngày 06-7-2017 Ủy ban nhân dân thành phố P1 cấp giấy chứng nhận số CE 107602 cho ông G được quyền sử dụng thửa đất trên, thuộc số 1269, tờ bản đồ số 4, diện tích 945 m2.

Ngày 26-9-2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có Quyết định giám đốc thẩm số 107/2017/QĐ-GĐT hủy bản án dân sự sơ thẩm số 57/2015/DS-ST ngày 29-9-2015 của Tòa án nhân dân thành phố P1 và bản án dân sự phúc thẩm số 27/2016/DS-PT ngày 04-5-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để xét xử lại vụ án.

Do đó,

không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Từ G và yêu cầu Tòa án hủy

nhận quyền sử dụng đất số CE 107602 do Ủy ban nhân dân thành phố P1 cấp ngày 06-7-2017 cho ông G.

- Ông Ngô Văn V1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chồng của

trình bày:

Ông đồng ý với ý kiến của

yêu cầu Tòa án hủy nhận quyền sử dụng đất số CE 107602 do Ủy ban nhân dân thành phố P1 cấp ngày 06-7- 2017 cho ông G được quyền sử dụng diện tích đất 945 m2, thuộc thửa số 1269, tờ bản đồ số 4 để bảo đảm quyền lợi cho

.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Từ Thị H2, chị Từ Thị L, chị Từ Thị Hồng L1, chị Từ Thị Hồng V, anh Từ Văn Tr trình bày: Các anh, chị đều thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Từ G. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án trên theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho ông Từ G.

+ Đại diện Ủy ban nhân dân thành phố P1 - ông Ngô Xuân H1 trình bày:

Năm 1987 để được cấp g

thì người xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải kê khai đăng ký, đất không tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Do vậy, UBND thị xã P1 (cũ) cấp giấy chứng nhận số A133000 ngày 6-7-1990 cho

được quyền sử dụng 945 m2 thuộc thửa số 39B, tờ bản đồ số 2 là đúng quy định. Tuy nhiên, trên cơ sở bản án phúc thẩm số 27/2016/DS-PT ngày 04-5-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai có hiệu lực pháp luật hủy Quyết định số 63 ngày 06/7/1990 của Uỷ ban nhân dân thị xã P1 (cũ) về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A133000 cấp ngày 06/7/1990 cho

, công nhận cho ông Từ G được quyền sử dụng diện tích đất theo

số A133000 đã cấp cho

, nên ngày 06-7-2017 UBND thành phố P1 cấp

n sử dụng đất số CE 107602 cho ông Từ G được quyền sử dụng thửa đất số 1269, tờ bản đồ số 4, diện tích 945m2. Nay các bên tranh chấp đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.

+ Đại diện UBND xã A trình bày:

Năm 1990, trên cơ sở kê khai của ông Từ G và bà P, UBND xã làm thủ tục lập hồ sơ trình UBND thị xã P1, tỉnh Gia Lai-Kon Tum (cũ) điều chỉnh, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận ông Từ G được quyền sử dụng 945m2 đất thuộc thửa số 39A, tờ bản đồ số 2 và được công nhận quyền sử dụng 945m2 theo

số A133000, thuộc thửa số 39B, tờ bản đồ số 2. Trình tự thủ tục lập hồ sơ cấp

đất cho ông G và

là đúng quy định. Sau khi được cấp gi

, vợ chồng

và ông Từ G đều sử dụng ổn định, đến năm 2009 thì ông G có khiếu nại đòi vợ chồng

trả lại diện tích đất được cấp g

nêu trên. UBND xã tiến hành hòa giải không thành, năm 2010 ông Từ G khởi kiện ra Tòa, UBND xã đề nghị Tòa án căn cứ tài liệu chứng cứ giải quyết vụ án theo luật định.

+ Ông Nguy n Sơn Hùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị - Giám đốc điều hành H

nông nghiệp kinh doanh dịch vụ A1 trình bày:

Ông là người mới tiếp nhận công tác sau này nên ông không biết năm 1987 hợp tác xã có giao đất cho bà P hay không. Qua kiểm tra, hiện nay Hợp tác xã không còn hồ sơ lưu trữ nào thể hiện vào năm 1987 có giao đất hoặc chia đất cho bà Từ Thị P. Tuy nhiên, năm 1994 thực hiện chủ trương theo Nghị định số 64/CP ngày 27-9-1993 của Chính phủ thì Hợp tác xã có chia đất cho các hộ nông dân mỗi người một số diện tích đất ruộng lúa 02 vụ để sản xuất trong đó có chia cho bà Từ Thị P diện tích 1.641m2 tại lô 7 cánh đồng A, diện tích đất này không liên quan đến đất mà ông Từ G tranh chấp với bà Từ Thị P.

- Người làm chứng:

Ông Mai L2 (nguyên cán bộ Hợp tác xã nông nghiệp A 1), Ông Võ Thế C (nguyên Thị ủy viên thị xã P1), ông Nguyễn L3 (nguyên Phó Chủ tịch UBND xã A, Trưởng Công an xã A giai đoạn 1977 - 1985), ông Nguyễn C1 (nguyên Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã A 1, nguyên Bí thư Chi bộ xã A) và ông Nguyễn P2 (người được HTX cấp đất trên diện tích đất mà ông Từ G đã hiến cho HTX), đều xác định rằng thời điểm đó có việc ông Từ G hiến đất cho HTX; bà P được HTX cấp diện tích 1.890 m2 đất trên diện tích đất ông Từ G đã hiến là có thật và phù hợp với chủ trương của Nhà nước lúc bấy giờ. Sau này, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Từ G,

mỗi người 945m2 đất là do sự tự thỏa thuận của các bên.

Ông Nguyễn Văn H5 khai: Ông là người cùng đi bộ đội với ông Ngô Văn V1 (chồng

) năm 1987 ông có giúp vợ chồng anh V1,

đào giếng, dựng nhà tạm bằng gỗ trên diện tích đất tranh chấp để sản xuất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 17-7-2019, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

:

Áp dụng Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Điều 163, Điều 164, Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 106, Điều 203 Luật Đất đai.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Từ G về yêu cầu

trả lại diện tích đất 945m2 tại thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai thuộc

đất số: A133000 thửa số 39B, tờ bản đồ số 2 và Không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Từ G về yêu cầu hủy

đất số: A133000 do ủy ban nhân dân thị xã P1 cấp ngày 06/7/1990 mang tên

.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của

hủy giấy

quyền sử dụng đất số CE 107602 do Ủy ban nhân dân thành phố P1 cấp ngày 06-7-2017 mang tên ông Từ G, được quyền sử dụng thửa đất số 1269, tờ bản đồ số 4, diện tích 945m2 tại thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

3. Buộc ông Từ G phải trả cho

3.000.000đồng (Ba triệu đồng) tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, việc thi hành bản án theo Luật thi hành án, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22/7/2019, nguyên đơn ông Từ G kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Người đại diện theo ủy quyền

ông G

Hiện có 3 người khác và ông G đang sử dụng đất của ông G

- Ông Nguyễn P2 sử dụng 1.000 m2 là phần đất mà ông G đưa vào HTX năm 1978.

- Ông Th1 sử dụng 1.632m2, do mua lại của ông C, ông C mua lại của ông ÔNG C, ông K mua của ông Từ G. Thực tế phần đất này có diện tích khoảng 2.500m2 chứ không phải 1.632 m2.

- Bà M1 mua của ông Từ G 1.045m2 (theo giấy thối công đất ngày 5/5/1977) nhưng thực tế đo theo tứ cận lúc mua để cấp g

năm 2015 là 1.467.9m2.

- Đất tranh chấp giữa ông G với chị P theo giấy tờ là 1.890 m2 nhưng thực tế là 2.207m2.

Theo đơn xin vào

, ông G đưa vào

tổng cộng 5 sào gồm 2 loại đất: đất ruộng và đất vườn có nhà ở ; trong đó: ruộng 2 vụ: 4.000m2; đất vườn có nhà ở: 1.000 m2.

Trong khi đó 7 sào đất nêu ở trên là đất vườn và đất thổ cư, nằm trong khu vực dân cư nông thôn, xung quanh đều có những người dân khác làm nhà ở và làm vườn từ trước khi ông G hiến đất, ngay cả đất tranh chấp vào những năm 1989 – 1990 cũng được trồng cà phê; địa hình khu vực đất này không phải là ruộng 2 vụ. từ trước giải phóng năm 1975 cho đến nay, tuyệt nhiên không có bất kỳ ai làm ruộng xung quanh khu vực 7 sào đất mà ông G khai hoang mà họ chỉ sử dụng đất để làm vườn và làm nhà ở trong phạm vi hàng chục héc ta, tạo nên làng xóm từ hàng chục năm trước đó.

Trong số 7 sào mà ông G khai hoang thì

A cấp cho ông Nguyễn P2 1 sào (nay ông P2 đang sử dụng). còn lại ông G đã bán cho bà M1 trên 1,4 sào, bán cho ông K (nay là ông Th1) 2,5 sào, ông trực tiếp sử dụng 2,2 sào, tổng cộng vừa đất hiến vào

, vừa đất bán, đất ông G sử dụng (nay có tranh chấp) là hơn 7 sào.

Nếu cho rằng 4 sào ruộng mà ông G hiến nằm trong đất khai hoang thì sẽ mâu thuẫn ở chỗ: diện tích bán cho bà M1 và ông Th1 là trên 3,9 sào rồi thì số diện tích còn lại không đủ 5 sào (7-3,9 = 3,1) để nhận định rằng ông G hiến 5.000 m2 vào

.

Nếu cho rằng ông G hiến 5 sào đất ở khu vực khai hoang 7 sào, chỉ còn lại hơn 2 sào ông G đã bán cho bà M1, ông Th1 là hết đất thì sẽ không chỉ ra được số đất khoảng 2.000 m2 còn lại trong số 5.000 m2 đất mà ông G đưa vào

, sau khi trừ đi phần ông P2 1 sào, chị P 1.890 m2 (hoặc thực tế là 2,2 sào - đang tranh chấp), hiện nay ở đâu? ai đang sử dụng?

Do vậy 4 sào ruộng mà ông G hiến vào cho

không nằm trong 7 sào đất mà ông khai hoang, nó đúng với nội dung ghi tại đơn xin vào HTX của ông G, khi viết đơn này

cũng như ông G đã phân biệt rất rõ: đất chỉ đưa vào

1.000 m2, còn ruộng thì đưa vào

4.000 m2, mà là ruộng 2 vụ, tức là có nước quanh năm. Và đây là ruộng ông đã tạo lập từ trước khi vào

và ở tại cánh đồng A.

Trong giấy bán đất giữa ông K với ông C ngày 12/02/1991 ghi giới cận phía Tây giáp đất ông G. Đến năm 2003, khi ông C bán đất cho ông Th1 theo hợp đồng

đất và nhà ở được UBND xã A chứng thực ngày 7/10/2003 cũng ghi giới cận giáp với đất ông G. Những chi tiết này phù hợp với việc UBND xã A và những người làm chứng trong hồ sơ đã xác nhận: Ông G là người canh tác, sử dụng ổn định liên tục đất tranh chấp từ trước giải phóng năm 1975 chứ không phải chị P.

iấ

ận quyền sử dụng đất 945m2 cho

không

2

Ông G

. Sau năm 1975, ông G

cho bà M1, ông K

g

do

giao

ông G

. Tô

.

Vi

2

Năm 1959, ông G

ông G

2

2 4.000m2

ngày 05/5/1977 ông G thối công đất cho bà M1 1.045m2; Sau đó, ông G tiếp tục chuyển nhượng phần đất còn lại cho vợ ch ng ông Nguyễn K (sau này vợ ch ng ông K chuy n nhượng lại cho ông C; ông C chuyển nhượng lại cho ông Th1

iấy

2

ch ng nhận quyền sử dụng đất

.

1.890m2

ông G

. Năm 1990, UBND

2 P1, tỉnh Gia Lai-Kon Tum (cũ)

.

:

1

ông G

L2

ông G

ông G không

b

ông G

ông G

giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất không

kháng cáo

ông G;

.

[1] Năm 1959, vợ chồng ông G từ Bình Định lên

AM

A, thành phố P1, t nh Gia Lai) khai hoang được diện tích khoảng hơn 7.000m2. Ngày 18/10/1978, vợ chồng ông G

xin vào Hợp tác xã nông nghiệp A 1 và

4.000m2 đất ruộng hai vụ và 1.000 m2 đất vườn c nhà ở.

[2] ông G

: Vợ chồng

2

A

2

vợ chồng

tr

c phê và hoa màu.

[3] Ngày 05/5/1977 ông G lập “Gi y thối công đất” cho vợ chồng ông H4, bà M1 1.045m2, ngày 10/6/2015 ông H4, bà M1 được UBND thành phố P1 cấp G

quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số BY 548812, công nhận có

1.467,9m2 (

19, 96); Sau đó, ông G tiếp tục chuyển nhượng phần đất còn lại cho vợ ch ng ông Nguyễn K, bà Tào Thị B1 (sau này vợ ch ng ông K chuy n nhượng lại cho ông C; ông C chuyển nhượng lại cho ông

2 Nguy n Văn Th1 theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất 47,48,49,50)

[4]

,

làm đơn xin cấp đất theo chủ trương

c và được H p tác xã A giao 1.890m2 trong ph n đ t ông G hi n vào h p tác xã. Sau khi được giao đất, vợ chồng đào gi ng, tr ng cà phê.... Ngày 10/8/1989, UBND thị xã P1, t nh Gia Lai-Kon Tum

có quy t định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất số 297/GCNRD công nhận

có quyền sử dụng diện tích 1.890m2 đất (

46, t 2). Ngày 06/7/1990 UBND

P1, tỉnh Gia Lai-Kon Tum (cũ) điều chỉnh, cấp lại Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất A133000 cho

được quyền sử dụng 945m2 thuộc thửa số 39B t

2 và ông Từ G được quyền sử dụng 945m2 theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số A132823 thuộc thửa 39A, tờ bản đồ số 2 (

94, 97).

iấy ch ng nhận quyền sử dụng đất

ông G

[5]

2

2

ông G

2

ông G

2

2

. N

2

ông G không

đang

.

[6]

3) ông G khai:

A

2

A

2

5.000m2

1

2

4, bà M1

v

2

1

”

[7] Những người làm chứng là các ông Mai L2, ông Võ Th , ông Nguy n L3, ông Nguyễn C1 và ông Nguyễn P2 (người được

cấp đất trên diện tích đất mà ông Từ G đã hiến cho

đang

)

đều xác định rằng thời đi m đ có việc ông Gió hiến đất cho

; bà P được

cấp diện tích 1.890m2 trên diện tích ông G đã hiến là có thật và phù h p với chủ trương của Nhà nước lúc b y giờ. Sau này, Nhà nước cấp giấy ch ng nhận quyền sử d ng cho ông G, bà P mỗi người 945 m2 đất là do sự thỏa thuận của các bên (

09, 10; 15-17).

[8]

ông G ông G

nhưng gian ông G

không

Ông G

(

187) v

UBND thị xã P1 (cũ) cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số A133000 ngày 06/7/1990 cho

không

[9]

ó cơ sở xác định diện tích đất ông G khai hoang 7.000m2, sau khi đã hiến cho hợp tác xã và sang nhượng thì không 1.890m2. Đối với thửa đất tranh chấp 945m2 t

tờ bản đồ số 2 được UBND thành phố P1 cấp G

A133000, ng 6-7-1990 cho Từ Thị P được quyền sử dụng ngu g c trước đây là của ông Từ G khai hoang, nhưng ông G đã hi n vào H

A và sau đó h

giao cho

. UBND thị xã P1 (cũ) cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số A133000 ngày 06/7/1990 cho

là đúng quy đ nh

[10]

không

yêu cầu khởi kiện của ông G ch p nhận yêu c u phản tố của

, tuyên hủy giấy chứng nh n quyền sử dụng

CE 107602 thửa đất số 1269, tờ bản đồ số 4, diện tích 945m2 tại thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai do y ban nhân dân thành ph P1 cấp ngày 06-7-2017 mang tên ông Từ G là có cơ sở.

[11]

không

kháng cáo

G

G

.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Không c

ông Từ G;

Gi

số 05/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Áp dụng:

- Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;

- Điều 203 Luật Đất đai 2013;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Từ G về yêu cầu Từ Thị P trả lại diện tích đất 945m2 tại thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai thuộc

số: A133000, thửa số 39B, tờ bản đồ số 2 và không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Từ G về yêu cầu hủy quyền sử dụng đất số: A133000 do y ban nhân dân thị xã P1 cấp ngày 06/7/1990 mang tên Từ Thị P.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Từ Thị P: Hủy Giấy

quyền sử dụng đất số CE 107602 do Ủy ban nhân dân thành phố P1 cấp ngày 06-7-2017 mang tên ông Từ G, thửa đất số 1269, tờ bản đồ số 4, diện tích 945m2 tại thôn 1, xã A, thành phố P1, tỉnh Gia Lai.

3. Buộc ông Từ G phải trả cho Từ Thị P 3.000.000đồng (ba triệu đồng) tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản.

4. n phí dân sự

Ông Từ G

.

Cỡ chữ