- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 225/2025/DS-ST Ngày: 05/06/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Thuỷ
2. Ông Đinh Hoàng Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên toà:
Bà Cao Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 06 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 512/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH MTV Số V
Trụ sở: đường L, phường Đ, quận K, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên
Người được uỷ quyền lại: Ông Võ Hải Đ – sinh năm 2001; địa chỉ: đường T, Phường P, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Quyết định uỷ quyền số 03/QĐ-LTO ngày 26/02/2025) (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Hoàng A – sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: đường N18, khu dân cư C, ấp Đ, xã H, huyện A, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án ông Võ Hải Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 02/01/2024, Ngân hàng TNHH MTV Số V có ký kết hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0003/1324 cho ông Phạm Hoàng A vay số tiền 1.200.000.000 đồng; lãi suất 3 tháng đầu tiên là 9%/năm, thời hạn vay 240 tháng, mục đích vay để vay hoàn vốn mua/nhận chuyển nhượng bất động sản.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Hoàng A đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 371, tờ bản đồ số 22, toạ lạc tại xã Hoà Khánh Tây, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số DC 854858, số vào sổ cấp GCN: CS 06845 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 30/11/2021; đăng ký biến động ngày 29/6/2022, chủ sở hữu/sử dụng là ông Phạm Hoàng A theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0003/TC24 ngày 02/01/2024, đã đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hoàng A đã thanh toán số tiền 65.434.430 đồng (trả nợ gốc là 20.000.000 đồng, trả nợ lãi là 45.434.430 đồng). Tạm tính đến ngày 05/06/2025, ông Hoàng A còn nợ tổng số tiền 1.316.108.555 đồng; trong đó: nợ gốc là 1.180.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 131.335.863 đồng, nợ lãi quá hạn là 4.772.692 đồng.
Nay, Ngân hàng yêu cầu:
Buộc ông Phạm Hoàng A trả ngay cho Ngân hàng TNHH MTV Số Vikki tổng số nợ còn thiếu (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, vốn) tạm tính đến ngày 05/06/2025 là 1.316.108.555 đồng (Một tỷ ba trăm mười sáu triệu một trăm lẻ tám nghìn năm trăm năm mươi lăm đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 06/06/2025 đến ngày ông Phạm Hoàng A thực trả hết nợ cho Vikki Bank theo lãi suất quá hạn được quy định tại hợp đồng vay số K.0003/1324 ngày 02/01/2024.
Trong trường hợp ông Phạm Hoàng A không trả hết nợ cho Vikki Bank thì yêu cầu phát mãi tài sản là: Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 371, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số DC 854858, số vào sổ cấp GCN: CS 06845 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 30/11/2021; đăng ký biến động ngày 29/06/2022, chủ sở hữu/sử dụng là ông Phạm Hoàng A theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0003/TC24 ngày 02/01/2024, đã đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định. Ngoài ra nếu tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ cho Vikki Bank thì yêu cầu tòa án buộc ông Phạm Hoàng A phải bổ sung thêm tài sản khác để thanh toán nợ cho Vikki Bank.
Bị đơn: Ông Phạm Hoàng A đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng ông Hoàng A vẫn không đến Toà làm việc nên không có ý kiến trình bày
Tại phiên tòa hôm nay,
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Xét lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét hợp đồng tín dụng số K.0003/1324 ngày 02/01/2024 và đơn xin chọn thẩm quyền ngày 15/04/2025 thì nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 10 để giải quyết tranh chấp là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Xét người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về số tiền vay:
Căn cứ lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Ngày 02/01/2024, Ngân hàng TNHH MTV Số V có ký kết hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0003/1324 cho ông Phạm Hoàng A vay số tiền 1.200.000.000 đồng; lãi suất 3 tháng đầu tiên là 9%/năm, thời hạn vay 240 tháng, mục đích vay để vay hoàn vốn mua/nhận chuyển nhượng bất động sản. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hoàng A đã thanh toán số tiền 65.434.430 đồng (trả nợ gốc là 20.000.000 đồng, trả nợ lãi là 45.434.430 đồng). Tạm tính đến ngày 05/06/2025, ông Hoàng A còn nợ tổng số tiền 1.316.108.555 đồng; trong đó: nợ gốc là 1.180.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 131.335.863 đồng, nợ lãi quá hạn là 4.772.692 đồng.
Xét, quá trình thụ lý giải quyết vụ án để làm rõ số tiền hiện bị đơn còn nợ và số tiền đã thanh toán, Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Toà để trình bày ý kiến của mình nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó, việc nguyên đơn tự nguyện khai báo về số tiền mà bị đơn đã thanh toán cũng như số tiền hiện còn nợ là có cơ sở, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và quy định tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm:
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Phạm Hoàng A đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 371, tờ bản đồ số 22, toạ lạc tại xã Hoà Khánh Tây, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số DC 854858, số vào sổ cấp GCN: CS 06845 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 30/11/2021; đăng ký biến động ngày 29/06/2022, chủ sở hữu/sử dụng là ông Phạm Hoàng A theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0003/TC24 ngày 02/01/2024; đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 02/01/2024 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Căn cứ Điều 317, Điều 318 và 319 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh trách nhiệm pháp lý ràng buộc các bên thực hiện.
Căn cứ Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 8 Hợp đồng thế chấp các bên có thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phát mãi tài sản trong trường hợp ông Hoàng A không trả được nợ.
Về lãi suất:
Xét thấy, tại Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số K.0003/1324 ngày 02/01/2024 thì giữa Ngân hàng với ông Hoàng A có thỏa thuận lãi suất cho vay là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông Hoàng A còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.
Về thời hạn thanh toán:
Do bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán theo như thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí dân sự:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc ông Phạm Hoàng A phải thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV Số V tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/6/2025 là 1.316.108.555 đồng (Một tỷ ba trăm mười sáu triệu một trăm lẻ tám ngàn năm trăm năm mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là 1.180.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 131.335.863 đồng, nợ lãi quá hạn là 4.772.692 đồng theo Hợp đồng tín dụng số K.0003/1324 ngày 02/01/2024.
Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
3. Trong trường hợp ông Phạm Hoàng A không thanh toán hoặc không trả hết nợ thì phải chịu các biện pháp xử lý tài sản theo quy định pháp luật kể cả việc phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sở hữu: Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 371, tờ bản đồ số 22, toạ lạc tại xã Hoà Khánh Tây, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số DC 854858, số vào sổ cấp GCN: CS 06845 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 30/11/2021; đăng ký biến động ngày 29/6/2022, chủ sở hữu/sử dụng là ông Phạm Hoàng A theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0003/TC24 ngày 02/01/2024; đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 02/01/2024 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Nếu giá trị tài sản phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông Phạm Hoàng A có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV Số V cho đến khi thanh toán xong nợ.
4. Chi phí tố tụng: Ông Phạm Hoàng A phải hoàn trả cho Ngân hàng TNHH MTV Số V chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất số 371, tờ bản đồ số 22, toạ lạc tại xã Hoà Khánh Tây, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Hoàng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 51.483.257 đồng (Năm mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi ba ngàn hai trăm năm mươi bảy đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn lại cho Ngân hàng TNHH MTV Số V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.412.143 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm mười hai ngàn một trăm bốn mươi ba đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020769 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng TNHH MTV Số V và ông Phạm Hoàng A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
7. Về thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 10; - TAND Tp HCM; - THADS Quận 10; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |