vanban.org

Bản án 225/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 19/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, cụ thể:

Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 225/2024/HS- PT
Ngày: 19/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thảo;

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Đình Lực;

Ông Phạm Văn Tuyển.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại Điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Điểm cầu thành phần: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2023/HS- ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 tại thành phố BG, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số 138, đường MĐ, tổ 1, phường MĐ, thành phố BG, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1940 và bà Tống Thị N, sinh năm 1943; có chồng là Ngô Duy H, sinh năm 1980 và có 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012); không có tiền sự; tiền án:

- Bản án số 22/2012/HS- ST ngày 21/5/2012, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Thị T 09 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý” (chấp hành xong bản án ngày 03/02/2021).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T: Luật sư Ngọc Thị V- Công ty luật TNHH Ngọc An thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 12/6/2023, tại đoạn đường LTT thuộc tổ dân phố ĐG, phường XG, thành phố BG, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Giang tiến hành kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát 98A – 365.78 đang đỗ ở ven đường có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội, lái xe ô tô là Đào Đức A, sinh năm 1999 ở thôn LX, xã SK, thành phố BG, tỉnh Bắc Giang. Khi kiểm tra xe ô tô này thì có một người đàn ông ở trên xe mở cửa bỏ chạy, tại cạnh cửa phía sau bên phụ lái có 01 người phụ nữ đang đứng, người phụ nữ khai tên là Nguyễn Thị T, sinh năm 1981, ở số 140, tổ 1, phường MĐ, thành phố BG. Tổ công tác mời người làm chứng, tiến hành kiểm tra xe ô tô trên phát hiện tại mặt ghế sau của xe ô tô, cạnh chỗ T đang đứng có 01 (một) hộp giấy màu trắng, xanh trên mặt có chữ “HERBALIVY SIRUP” và nhiều chữ khác, bên trong đựng 02 (hai) túi nilon màu trắng, một đầu mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng chất cục bột màu trắng, nghi là ma tuý. T khai nhận đó là ma túy Heroine, mang đi bán cho người vừa mở cửa xe bỏ chạy.

Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng nghi ma tuý vào phong bì ký hiệu “QT”; mời người làm chứng, đưa Nguyễn Thị T cùng vật chứng về Công an phường XG, thành phố BG, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với T.

Ngoài ra còn thu giữ của T: 01 xe máy điện, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; thu giữ của Đào Đức A: 01 xe ô tô BKS 98A- 365.78 cùng giấy tờ xe. (BL 29-37)

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì. (BL 45- 46)

Kết luận giám định số 1126/KL- KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng, một đầu mỗi túi đều có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ được đựng trong 01 hộp giấy màu trắng xanh, bên ngoài có chữ “HERBAL IVY SIRUP” và nhiều chữ khác đều là ma tuý, có tổng khối lượng 51,334 gam, loại Heroine (Heroine) có tên khoa học là; Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất. (BL 67)

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau:

Trước ngày bị ngày bị bắt khoảng 01 tháng, T đang ở cửa hàng bán đồ nội thất trên đường XG, thành phố BG (cửa hàng của chị gái T) thì có một người đàn ông đến mua hàng, giới thiệu tên là K, qua câu chuyện K biết T có tiền án về tội phạm ma tuý, vừa chấp hành xong. K nói biết chỗ bán ma tuý bên tỉnh Bắc Ninh, nếu cần mua ma tuý, K sẽ giới thiệu. K cho T số điện thoại và nói đó là số điện của em K, cần thì liên hệ, giá 01 túi ma tuý Heroine là 17,5 triệu đồng. Sau khi gặp K khoảng 10 ngày, T gặp một người phụ nữ đến mua hàng, giới thiệu tên là T1, qua trao đổi thì T1 biết T vừa đi chấp hành án phạt tù về, T1 đặt vấn đề mua ma tuý của T và lấy số điện thoại của T, đồng thời nói sẽ cho người liên hệ với T để mua ma tuý, giá mua sẽ là 20 triệu đồng/01 túi ma tuý Heroine.

Khoảng hơn 17 giờ ngày 12/6/2023, T nhận được điện thoại của một người đàn ông, giới thiệu là em của T1, trên điện thoại người này hỏi mua của T 02 túi ma tuý Heroine. T đồng ý và bảo đợi một lúc vì T đang bận bán hàng. Sau đó, T gọi điện thoại vào số điện thoại mà K cho trước đó, hỏi mua ma túy Heroine. Trên điện thoại, có một người thanh niên nghe điện và hỏi T muốn mua bao nhiêu, T nói muốn mua 35 triệu đồng. T và người thanh niên này thống nhất sẽ giao ma tuý cho T trên thành phố BG và chờ sau khi T bán ma tuý xong sẽ lấy tiền ngay. Trao đổi mua ma tuý xong, T gọi điện thoại cho người hỏi mua ma túy và hẹn gặp nhau ở khu vực thành XG gần ngã ba QT thuộc phường XG, thành phố BG, rồi gọi điện thoại lại cho người bán ma tuý hẹn gặp, nhận ma tuý tại khu vực T hẹn với người mua ma tuý.

Khoảng gần 18 giờ cùng ngày, T đi xe đạp điện một mình đến khu vực ngã ba QT và gọi điện thoại cho người mua ma túy, người này nói đi xe ô tô taxi màu trắng, đang đỗ ở khu vực gần cổng Trường Văn hóa nghệ thuật tỉnh Bắc Giang. T gọi điện thoại cho người bán ma tuý, người này nói đang ở khu vực ngã ba QT. T đi xe ra khu vực cổng Trường Văn hóa nghệ thuật thì nhìn thấy có 01 xe ô tô màu trắng, T đến gần thì có một người thanh niên mở cửa xe phía sau bên phụ, qua trao đổi T biết là người mua ma tuý nên đã lên xe ô tô ngồi cùng ở hàng ghế sau. Trên xe ô tô, T bảo người mua ma tuý đưa tiền trước để T đi lấy ma túy, nhưng người mua muốn T đưa ma tuý trước. T gọi điện thoại cho người bán ma tuý mang ma tuý cho T, ngay sau khi T gọi điện thì thấy người 01 người đàn ông đi xe mô tô đến đỗ ở cạnh chỗ T đang đứng và bảo “cầm hộp này này” rồi nhìn xuống giá ở giữa xe mô tô, T nhìn thấy ở đó có 01 hộp giấy hình chữ nhật màu xanh, T hiểu đó là hộp đựng ma túy Heroine nên đã cầm và vứt vào ghế xe ô tô chỗ người đàn ông mua ma tuý đang ngồi, đúng lúc này thì Cơ quan Công an đến bắt giữ T. Người đàn ông mua ma tuý mở cửa xe bỏ chạy, người bán ma tuý cũng lái xe đi, không bắt giữ được. (BL 148-174)

Kết quả kiểm tra thẻ nhớ trong Camera giám sát thu giữ trên xe ô tô BKS 98A- 365.78 có các hình ảnh video T đến gặp người mua ma tuý, cầm hộp ma tuý ném vào trong xe ô tô như T đã khai. (BL 56-58)

Ngày 13/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra, kết quả T thực hiện thuần thục các hành vi ngồi trong xe ô tô trao đổi với người mua ma tuý, cầm hộp ma tuý ném vào trong xe ô tô như T đã khai. (BL 77-78)

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 106/2023/HS- ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/12/2023, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu, con còn nhỏ; bị cáo có bố là thương binh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Khi lượng hình đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức án 16 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

Luật sư V bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo mới ra trại được hơn 01 năm, không có công ăn việc làm trong khi còn phải nuôi hai con nhỏ; hiện nay địa phương chưa có chính sách hỗ trợ cho những người mới đi cải tạo về tái hòa nhập cộng đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan cảnh sát Điều tra và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị T: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 12/6/2023, tại đoạn đường LTT thuộc tổ dân phố ĐG, phường XG, thành phố BG, tỉnh Bắc Giang, trong lúc Nguyễn Thị T đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý trên xe ô tô biển kiểm soát 98A – 365.78 đang đỗ ở ven đường thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số 1126/KL- KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị T là ma tuý, có tổng khối lượng 51,334 gam, loại Heroine (Heroine). Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội và địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị T:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Mạnh T là thương binh và được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên và xử phạt bị cáo mức án 16 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, cụ thể:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023.

2. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ