- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Kim P và bị đơn Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? Cho chị Nguyễn Thị Kim P ly hôn anh Nguyễn Văn P1.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 225/2024/HNGĐ-ST Ngày 29-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Phương.
2. Ông Tạ Xuân Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ E, khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 10 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn P1 tìm hiểu được 03 năm thì tự nguyện đi đến hôn nhân. Anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ năm 2021 thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn về quan điểm sống, trách nhiệm trong gia đình. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị đã được gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị không còn sống chung từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P1.
Về con chung: Chị và anh P1 có 01 con chung tên là Nguyễn An T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2018. Hiện con đang sống với chị. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ: Chị và anh P1 tự thoả thuận giải quyết về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh chị không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn P1 không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cũng như không tham gia tố tụng.
Tại phiên Toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị P được ly hôn với anh P1, giao con chung cho chị P nuôi và buộc anh P1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Kim P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Nguyễn Văn P1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh P1 đang cư trú tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh P1 vẫn vắng mặt không có lý do. Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh P1, chị P.
Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có chị P cung cấp tài liệu chứng cứ. Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào những tài liệu chứng cứ này và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án để giải quyết vụ án.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim P và anh Nguyễn Văn P1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa chị P, anh P1 là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị P nộp đơn yêu cầu ly hôn vì lý do mâu thuẫn quan điểm sống, trách nhiệm trong gia đình. Anh P1 không đến Tòa cũng như không đưa ra ý kiến gì để đoàn tụ. Mặc dù gia đình nhiều lần hoà giải nhưng anh chị không hàn gắn được mà bỏ mặc hạnh phúc gia đình. Tuy là vợ chồng nhưng anh chị không yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau mà sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay. Điều đó có thể chứng minh tình trạng hôn nhân giữa chị P, anh P1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị P được ly hôn anh P1.
Về quan hệ con chung: Chị P và anh P1 có 01 con chung là cháu Nguyễn An T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2018. Chị P yêu cầu được nuôi con. Xét thấy, thời gian sống ly thân chị P vẫn đảm bảo các điều kiện để cháu T được phát triển bình thường. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu T cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị P yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Xét thấy, không có căn cứ xác định được mức thu nhập của anh P1 nên áp dụng khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, mức cấp dưỡng nuôi con được xác định không thấp hơn 1/2 mức lương tối thiểu vùng tại nơi anh P1 sinh sống tương đương 3.450.000 đồng/2 = 1.725.000 đồng. Do đó, căn cứ Điều 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình buộc anh P1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T hàng tháng, mỗi tháng 1.800.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 08 năm 2024 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi do không xác định được thời gian anh P1 không sống với con cũng như vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ: Chị P, anh P1 tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, anh chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Anh Nguyễn Văn P1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử:
1. Cho chị Nguyễn Thị Kim P ly hôn anh Nguyễn Văn P1.
2. Giao con chung là cháu Nguyễn An T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị Kim P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Văn P1 phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn An T hàng tháng, mỗi tháng 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng, thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001591 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.
Anh Nguyễn Văn P1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nộp vào Ngân sách nhà nước.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án ,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơinhận:
| - Đương sự; - VKSND huyện Tuy Phước; - CC THADS huyện Tuy Phước; - UBND xã Phước An (Số 42/2018); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Quyên |