vanban.org

Bản án 225/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Võ Hoàng G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Điểm c, khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành H; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "GIANG, HUY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Võ Hoàng G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 225/2023/HSST
Ngày: 29/12/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy L

- Các Hội thẩm nhân dân:

1, Bà Hồ Thị Kim Luyến

2, Bà Nguyễn Thị Thanh Hƣơng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ An T, cán bộ Tòa án nhân dân quận N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 216/2023/HSST ngày 29/11/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 953/2023/QĐXXST-HS, ngày 15/12/2023, đối với:

1. Bị cáo Võ Hoàng G sinh ngày 14/10/1990 sinh tại C

ĐKTT: số 116/12 đường CMT8, P. Bùi Hữu Nghĩa, quận B, thành phố C; Chỗ ở: số 8/39 khu vực 3 Sông Hậu, phường Cái Khế, quận N, thành phố C; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Võ Nguyên Ph và bà Nguyễn Thị P; anh chị em ruột có 01 người; bị cáo có vợ là Trương Mỹ H (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 2010;

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 lần; vào ngày 13/7/2007, bị Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2023 (đã đóng án phí).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/8/2023, Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N (Có mặt).

1. Bị cáo Nguyễn Thành H sinh ngày 29/11/1975, sinh tại Vĩnh Long

ĐKTT: ấp Phước Trinh, xã Phước Bình, huyện M, tỉnh V; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Mua bán; con ông Nguyễn Văn B và bà Võ Thị G; Em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1996; Bị cáo sống chung như vợ, chồng với Nguyễn Thị D; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2021;

- 1 -

Tiền sự: 01 lần. Ngày 28/9/2021, bị Công an quận N xử phạt hành chính 2.500.000 về hành vi Xâm phạm sức khỏe người khác; bị can chưa thực hiện. đóng phạt.

Tiền án: Chưa.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N. (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị D

Địa chỉ: Ấp 9, xã Lương Tâm, thị xã Long mỹ, tỉnh Hậu G. (Có mặt)

2. Bà Đào Mộng Hoàng N

Địa chỉ: Ấp 4, xã An Hữu, Hện cái Bè, tỉnh Tiền G. (Vắng mặt)

Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Phan Đăng K

Địa chỉ: 164/62 CMT8, phường Cái Khế, quận N, thành phố C. (Vắng mặt)

2. Ông Quách Trọng H

Địa chỉ: 51/1C CMT8, phường Cái Khế, quận N, thành phố C (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/8/2023 Nguyễn Thành H sử dụng điện thoại di động có sim số 0704839490 gọi cho Võ Hoàng G qua số di động 0813636727 hỏi mua gói ma túy đá với giá 400.000 đồng. G đồng ý và hẹn H đến cạnh hồ câu cá gần bến đò giữa thuộc khu vực 3 Sông Hậu, phường Cái Khế, quận N, thành phố C để nhận ma túy. G lấy gói ma túy đá đến điểm hẹn giao gói ma túy cho

H

và

lấy

số

tiền

400.000

đồng.

Nguyễn

Thành H cầm gói ma túy trên tay rồi điều khiển xe mô tô để tìm nơi sử dụng. Khi H đến trước nhà số 9/12 Nguyễn Văn Cừ, phường Cái Khế, quận N nhìn thấy có lực lượng Công an nên ném gói ma túy xuống đường nhưng vẫn bị phát hiện. H khai gói ma túy là của H vừa mua của Võ Hoàng G để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ:

- 01 gói nilon không màu, hàn kín bên trong chứa tính thể không màu, được quấn băng keo màu đen bên ngoài (thu giữ trên nền đường ngay chỗ H đang đứng);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, biển số 63B1 - 262.31 (bút lục: 55, 56).

Tại Kết luận giám định số 269/KL - KTHS ngày 17/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành H là ma túy, loại * Methamphetamine, khối lượng 0,3842 gam (bút lục: 47).

Từ lời khai của H, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Võ Hoàng G, tại phòng trọ số 27 nhà trọ Nguyễn Thị Ám, địa chỉ số 8/39 khu vực 3 Sông Hậu, phường Cái Khế, quận N, TP. C, qua khám xét phát hiện, thu giữ những vật chứng sau:

- 2 -

- 01 gói nilon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu; 01 đoạn ống nhựa không màu, hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể không màu, tất cả đều được để trong 01 gói nilon màu đen, nẹp miệng được cất giấu trong chiếc áo phao màu cam để trong tủ quần áo của G;

- 01 cân điện tử; 01 quẹt gas; 20 gói nilon không màu, nẹp miệng viền xanh; 03 đoạn ống nhựa không màu, hở hai đầu; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 cây ben bằng kim loại; 01 bình tự chế để sử dụng ma túy; 01 nỏ thủy tinh; 01 cuộn băng keo màu đen;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng, bể mặt lưng (bút lục: 59,60).

Kết luận giám định số 270/KL - KTHS ngày 17/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố C kết luận: tinh thể không màu trong gói nilon hàn kín và đoạn ống nhựa không màu hàn kín gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 1,8369 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Thành H khai do bản thân có sử dụng ma túy và đã 02 lần mua trái phép ma túy của G để sử dụng, lần thứ nhất bị can mua ma túy của G là hơn 01 tuần trước; lần thứ hai, bị can tiếp tục mua ma túy của G để sử dụng thì bị bắt. Cả 02 lần bị can mua ma túy đều với giá 400.000 đồng và liên hệ qua điện thoại.

Bị can Võ Hoàng G khai nhận: ma túy trong gói nilon và đoạn ống nhựa thu giữ tại phòng trọ và gói ma túy Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Thành H đều là của bị can. Bị can đã mua ma túy của đối tượng nam (không rõ họ tên, địa chỉ) ở đường Nguyễn Trường Tộ, phường Tân An, quận N, thành phố C vào ngày 08/8/2023 với số tiền là 1.000.000 đồng nhưng khi trả tiền bị can chỉ trả 600.000 đồng, mang về nhà cất giấu để sử dụng cá nhân và bán lại cho người khác. Đến ngày 09/8/2023, thì Nguyễn Thành H gọi điện thoại hỏi mua gói túy giá 400.000 đồng, bị can đồng ý nên lấy gói ma túy đã mua chia ra để bán cho H, sau đó thì bị bắt, khám xét thu giữ phần ma túy còn lại. Bị can chỉ thừa nhận bán trái phép ma túy cho Nguyễn Thành H 01 lần vào ngày 09/8/2023; trước đó H có hỏi mua ma túy nhưng không có tiền trả nên bị can không bán mà sử dụng hết. Do chỉ có lời khai của bị can Nguyễn Thành H, không có chứng cứ xác định bị cáo G đã có 01 lần bán trái phép ma túy cho bị can H trước đó nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để truy cứu bị can Võ Hoàng Hoàng về lần phạm tội trước.

Đối với đối tượng nam bán trái phép ma túy cho G, do bị can khai không biết rõ tên thật và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 230/CT-VKSNK ngày 20/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận N đã quyết định truy tố bị cáo Võ Hoàng G về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo. Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi

- 3 -

phạm tội mà bị cáo thực hiện. Phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Võ Hoàng G:

- Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự;

- Đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm sáu tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Đối với bị cáo Nguyễn Thành H:

- Đề nghị áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự;

- Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm sáu tháng đến 02 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Về vật chứng, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;

- Tịch thu tiêu hủy các vật dụng có liên quan đến ma túy khoác màu đen đã thu giữ gồm: 01 gói nilon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu; 01 đoạn ống nhựa không màu, hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể không màu, tất cả đều được để trong 01 gói nilon màu đen, nẹp miệng; 01 cân điện tử; 01 quẹt gas; 20 gói nilon không màu, nẹp miệng viền xanh; 03 đoạn ống nhựa không màu, hở hai đầu; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 cây ben bằng kim loại; 01 bình tự chế để sử dụng ma túy; 01 nỏ thủy tinh; 01 cuộn băng keo màu đen;

- Tịch thu sung ngân sách 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng, bể mặt lưng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh;

- Tiếp tục thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, biển số 63B1 - 262.31;

- Buộc bị cáo G nộp lại tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Các bị cáo trình bày: Thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;

Bà Nguyễn Thị D trình bày: Yêu cầu xem xét cho bà nhận lại tài sản là điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh và xe mô tô kiểu dáng Wave, biển số 63B1 - 262.31đã thu giữ;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo khai nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy. Thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như mô tả tại kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận N, cụ thể:

- 4 -

Bị cáo Võ Hoàng G vì muốn có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài nên thực hiện hành vi bán ma túy trái phép 01 lần 0,3842 gram Methametamine cho Nguyễn Thành H và số lượng ma túy còn lại thu giữ tại nơi ở của G là 1,8369 gram Methametamine.

Bị cáo H có hành vi mua và tàng trữ 0,3842 gram Methamphetamine, để dành sử dụng cá nhân.

Như vậy, các bị cáo H và G thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo H đã đủ yêu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; bị cáo G thỏa mãn đầy đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 của bộ luật Hình sự.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hai bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội và pháp luật. Các bị cáo biết rất rõ tất cả những hành vi có liên quan đến ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do nghiện, muốn có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng, hai bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo nên xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tình tiết tăng nặng:

- Bị cáo Võ Hoàng G đã có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, là tình tiết tăng nặng“tái phạm ” được quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H có 01 tiền sự về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác, mặc dù không xem là tình tiết tăng nặng, nhưng cũng xem xét về ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

Số lượng ma túy thu được còn lại trong vụ án là chất biệt dược cấm lưu hành nên tiêu hủy.

Tịch thu tiêu hủy các vật dụng thu được trong vụ án có liên quan đến ma túy gồm:

- 01 đoạn ống nhựa không màu, hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể không màu, tất cả đều được để trong 01 gói nilon màu đen, nẹp miệng được cất giấu trong chiếc áo phao màu cam để trong tủ quần áo của G; 01 cân điện tử; 01 quẹt gas; 20 gói nilon không màu, nẹp miệng viền xanh; 03 đoạn ống nhựa không màu, hở hai đầu; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 cây ben bằng kim loại; 01 bình tự chế để sử dụng ma túy; 01 nỏ thủy tinh; 01 cuộn băng keo màu đen; Áo phao màu cam, đã cũ của bị cáo G;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng, bể mặt lưng (bút lục: 59,60) thu của bị cáo G và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh thu của bị cáo H là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua, bán ma túy, nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, biển số 63B1 - 262.31 thu từ bị cáo H, bị cáo H sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy, bị cáo khai là của chị Nguyễn Thị D; qua xác minh xe trênlà của chị Đào Mộng Hoàng Nga, nhưng chị Nga đã bán cho người khác nhiều năm, và cũng không nhớ là bán cho ai, giá bao nhiêu, lúc bán không có làm giấy tờ mua bán theo quy định; chị Nguyễn Thị D khai mua của người khác, nhưng không cung cấp chứng từ, cũng không có giấy tờ mua bán theo

- 5 -

quy định để chứng minh quyền sở hữu. vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định là có căn cứ.

Bị cáo Võ Hoàng G bán trái pháp chất ma túy cho bị cáo H với giá 400.000 đồng, bị cáo gaing đã nhận số tiền này, đây là tiền thu lợi bất chính từ hành vi vi phạm pháp luật, vì vậy, buộc bị cáo G phải nộp lại để sung ngân sách nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khan, bị cáo G thu lợi không lớn nên miễn hình phạt bổ sung cho hai bị cáo;

. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và người có liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

- Bị cáo Võ Hoàng G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Hoàng G.

- Điểm c, khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành H;

Áp dụng các Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự đối với 2 bị cáo;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt:

Bị cáo Võ Trường G 04 (bốn) năm tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 09/8/2023.

Bị cáo Nguyễn Thành H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 09/8/2023.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy thu được còn lại trong vụ án sáu giám định, (đựng trong gói niêm phong số 269, 270/KL-KTHS ngày 17/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phồ C);

- 01 đoạn ống nhựa không màu, hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể không màu, tất cả đều được để trong 01 gói nilon màu đen, nẹp miệng; 01 cân điện tử; 01 quẹt gas; 20 gói nilon không màu, nẹp miệng viền xanh; 03 đoạn ống nhựa không màu, hở hai đầu; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 cây ben bằng kim loại; 01 bình tự chế để sử dụng ma túy; 01 nỏ thủy tinh; 01 cuộn băng keo màu đen; Áo phao màu cam, đã cũ của bị cáo G;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng, bể mặt lưng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh;

Thông báo tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, biển số 63B1 - 262.31, trong hạn 2 n8m nếu không ai đến nhận thì sung quỹ nhà nước.

- 6 -

(các vật chứng trên được tạm giữ tại cơ quan thi hành án quận N, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/11/2023).

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ