vanban.org

Bản án 225/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 04/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn Q.

Về con chung: Giao con chung Vũ Ngọc Linh Đ, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013 cho anh Vũ Văn Q chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh Q không ở Việt Nam, tạm giao cháu Đ cho bà Trương Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Vũ Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:225/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04/8/2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thanh

Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nH dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 215/2023/HNGĐ-TLST ngày 19/5/2023, về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2023/QĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.

Người đại diện theo ủy quyền của chị H: Anh Lê Minh H, sinh năm 1996.

Địa chỉ : Số nhà 55/23/165 Dương Quảng H, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn : Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1990.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Hiện ở: Hàn Quốc.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trƣơng Thị Th, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Hải Dương. (Chị H, anh Q, bà Th có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có chứng thực của Phòng công chứng số 1, sở tư pháp tỉnh Hải Dương) nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Q tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Hải Dương ngày 06/3/2013. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian. Đầu năm 2017 chị đi lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc. Đến năm 2018 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người sống xa nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung. Năm 2019 anh Q đi Hàn Quốc lao động, chị và anh Q không quan tâm đến nhau. Tháng 4/2023 chị về Việt Nam để làm thủ tục ly hôn, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

Về con chung: Chị và anh Q có một con chung là Vũ Ngọc Linh Đ, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013. Hiện tại cháu đang ở với bà nội, ly hôn để ổn định cuộc sống và tâm sinh lý của cháu, chị đồng ý để anh Q nuôi con, trong thời gian anh Q không ở Việt Nam, chị đồng ý để cháu Đ ở với ông bà nội là ông Vũ Văn B và bà Trương Thị Th. Chị H tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh Q 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị H tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Anh Vũ Văn Q hiện đang lao động tại Hàn Quốc, do chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Q nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh Q tại gia đình. Bà Trương Thị Th là mẹ đẻ anh Q cung cấp, khoảng năm 2019 anh Q đi Hàn Quốc lao động, từ khi đi anh Q chưa về Việt Nam lần nào, địa chỉ của anh Q ở Hàn Quốc bà không biết nên không cung cấp được cho Tòa án. Tuy nhiên anh Q thường xuyên gọi điện thoại về cho gia đình. Việc chị H làm đơn ly hôn gia đình và anh Q đều biết. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng lâu ngày sống xa nhau, hai bên không tìm thấy tiếng nói chung. Tháng 4/2023 chị H về Việt Nam có liên lạc với anh Q để cùng về giải quyết mâu thuẫn, nhưng do công việc anh Q không về được, dẫn đến mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Bà Th đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Q biết. Thông qua gia đình anh Q xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, chị H có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh xác định vợ chồng có một con chung như chị H trình bày, ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con, trong thời gian anh không ở Việt Nam anh ủy quyền cho bố mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ.Về tài sản chung, nợ chung: Không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Q đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Th trình bày: Bà là mẹ đẻ anh Q, từ nhỏ cháu Đan sống cùng bà, trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn cho chị H và anh Q, bà đồng ý nhận ủy quyền của anh Q chăm sóc cháu Đ trong thời gian anh Q không ở Việt Nam. Bà đồng ý việc chị H hàng tháng cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đ 2.000.000đồng. Bà đề nghị được giải quyết vắng mặt.

- Cháu Vũ Ngọc Linh Đ là con chung của chị H, anh Q có quan điểm, từ nhỏ cháu ở với bà nội, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với bố. Trong thời gian bố không ở Việt Nam cháu có nguyện vọng được ở với bà nội là Trương Thị Th.

Đại diện Viện kiểm sát nH dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị H, anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị H được ly hôn anh Q. Về con chung: Giao cháu Vũ Ngọc Linh Đ, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013 cho anh Vũ Văn Q chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh Q không ở Việt Nam, tạm giao cháu Đ cho bà Trương Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh Q là 2.000.000đ/tháng. Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nH dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn Q đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Hải Dương. Hiện tại chị H đang lao động tại Nhật Bản, anh Q đang lao động tại Hàn Quốc. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh Q. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh Q cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh Q được biết, anh Q thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Trương Thị Th. Bà Th đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Q biết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Anh Q, chị H đều có quan điểm ủy quyền cho bà Trương Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vũ Ngọc Linh Đ trong thời gian anh Q không ở Việt Nam , nên Tòa án xác định bà Th là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Các đương sự đều có quan điểm xin được xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nH: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L tỉnh Hải Dương ngày 06/3/2013, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, dẫn đến bất đồng quan điểm, mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng cả hai không tìm thấy tiếng nói chung. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh Q. Thông qua gia đình anh Q có quan điểm đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nH không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn Q có một con chung là Vũ Ngọc Linh Đ, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013. Hiện tại cháu Đ đang ở cùng ông bà nội, ly hôn chị H có quan điểm để anh Q nuôi con, anh Q đồng ý. Xét thấy, chị H và anh Q đều ở nước ngoài, cháu Đ ở cùng ông bà nội từ nhỏ, cháu được chăm sóc, học tập tốt. Do đó, để ổn định cuộc sống của cháu, cần tiếp tục giao cháu Đan cho anh Q chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh Q không ở Việt Nam, tạm giao cháu Đ cho bà Trương Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh Q 2.000.000đ/tháng cho đến khi con trưởng thành.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nH gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nH và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn Q.

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Ngọc Linh Đ, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013 cho anh Vũ Văn Q chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh Q không ở Việt Nam, tạm giao cháu Đ cho bà Trương Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con là 2.000.000đ/1tháng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Kể từ khi anh Q có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị H không thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nH gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2022/0000186 ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nH gia đình sơ thẩm. Chị H còn phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bà Trương Thị Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ