- Tranh chấp gì? án hình sự — "Biện Văn Trung T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Biện Văn Trung T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 225/2022/HS-PT Ngày: 29 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Hùng Cường.
Ông Võ Trung Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 183/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Biện Văn Trung T do có kháng cáo của bị cáo Biện Văn Trung T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Biện Văn Trung T (tên gọi khác: T1), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Biện Văn H, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957; bị cáo có vợ là chị Lê Ngọc N, sinh năm 1982; bị cáo có 02 con sinh năm 2010 và 2014; tiền sự: Không; tiền án: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án có 01 bị hại và 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 20/7/2021, Biện Văn Trung T đã uống bia có nồng độ cồn trong máu 84,99mg/dl, điều khiển xe mô tô ba bánh gắn biển kiểm soát 63B9-245.79, chở Lê Hồng G, sinh năm 1976, ngồi trên thùng để dụng cụ phía trước bên trái, lưu thông trên Huyện L, hướng từ xã T đi xã T. Khi đến trụ điện số 49, đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, xe 63B9-245.79, do T điều khiển va chạm vào xe mô tô ba bánh gắn biển kiểm soát 60U1-4264, do anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984, điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả xe 63B9- 245.79 ngã trên đường về bên phải hướng đi; Lê Hồng G tử vong tại chỗ.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, khám nghiệm tử thi theo quy định của pháp luật.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 253/2021/TTh ngày 20/7/2021 của Trung tâm P, kết luận: Nguyên nhân tử vong của Lê Hồng G: Mất máu cấp do vết thương đứt lìa cánh tay trái, đứt lìa đùi trái; Đứt động mạch, tĩnh mạch cánh tay trái; Đứt động mạch tĩnh mạch đùi trái do tai nạn giao thông. Dấu hiệu chính qua giám định tử thi Lê Hồng G: Đứt lìa chân trái, tay trái.
Như vậy, qua khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, tử thi đã xác định được nguyên nhân trực tiếp của vụ tai nạn là do Biện Văn Trung T điều khiển xe mô tô 03 bánh gắn biển kiểm soát 63B9- 245.79, chở Lê Hồng G, nhưng không đảm bảo an toàn, vi phạm nguyên tắc giao thông đường bộ, đã lấn sang trái đường 0,15 mét va chạm vào bên trái xe mô tô 03 bánh gắn biển kiểm soát 60U1- 4264, lưu thông theo chiều ngược lại.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 21/7/2021 của Trung tâm Y tế huyện T, xác định nồng độ cồn trong máu của Biện Văn Trung T là 84.99 Mg/dl; của Nguyễn Văn H1 là 9.86 Mg/dl; Trị số bình thường từ 0-10.
Nồng độ Alcool trong máu của Lê Hồng G là 227 mg/dl, theo kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Đ, số bệnh phẩm 200721-7028, ngày 21/7/2021.
Căn cứ kết luận giám định số 936/KTHS-Đ2 ngày 01/11/2021 của Phòng K Công an tỉnh T, thì phương tiện cơ giới gắn biển kiểm soát 63B9- 245.79 do bị can Biện Văn Trung T điều khiển là xe mô tô ba bánh. Bị can T không có giấy phép lái xe Hạng A3 để đủ điều kiện điều khiển xe mô tô ba bánh theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 và Điểm c Khoản 2 Điều 59 Luật Giao thông đường bộ.
Trong quá trình điều tra, bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu) đồng. Đại diện bị hại đã xác nhận có nhận tiền của bị cáo, sau đó làm đơn xin bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Biện Văn Trung T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Biện Văn Trung T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 09/9/2022, bị cáo Biện Văn Trung T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Biện Văn Trung T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Đồng thời có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xem giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Biện Văn Trung T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo Biện Văn Trung T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ, ngày 20/7/2021, bị cáo T trực tiếp điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 63B9-245.79 chở anh Lê Hồng G lưu thông trên huyện lộ 47, hướng từ xã T đến xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Khi đến địa phận ấp T, xã T, bị cáo điều khiển xe lấn sang trái đường để xe va chạm với xe mô tô ba bánh biển số 60U1-4264 do anh Nguyễn Văn H1 điều khiển dẫn đến tai nạn làm anh Lê Hồng G bị chết.
Xét bị cáo không có Giấy phép lái xe theo quy định và trong tình trạng có sử dụng rượu, bia trong máu có nồng độ cồn là 84,99Mg/dl. Do đó bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, nhận thấy: Về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng, xe mô tô ba bánh 63B9-245.79 mà bị cáo điều khiển là nguồn nguy hiểm cao độ. Vì thế, pháp luật qui định người điều khiển loại phương tiện này phải có Giấy phép lái xe theo quy định và khi điều khiển phương tiện lưu thông trên đường công cộng phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật giao thông đường bộ nhằm phòng trách tai nạn, gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của bản thân và những người tham gia giao thông. Thế nhưng, bị cáo đã không tuân thủ quy định pháp luật, điều khiển phương tiện khi không có giấy phép lái xe, có sử dụng rượu, bia, lưu thông không đúng làn đường quy định nên đã để xảy ra tai nạn. Vì thế, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù là thỏa đáng. Tuy nhiên xét thấy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (BL: 258) và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn và bị cáo có hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 15.000.000 đồng. Đây là tình tiết mới, nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Nhưng để đảm phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay, Hội đồng xét xử không chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Biện Văn Trung T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
2. Tuyên bố bị cáo Biện Văn Trung T (T1) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Biện Văn Trung T (T1) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí: Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang; - Trại tạm giam CA tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Tân Phước; - VKSND huyện Tân Phước; - Công an huyện Tân Phước; - THADS huyện Tân Phước; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Tuấn |