- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS) - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn N. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 225/2022/HS-PT Ngày: 27- 7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;
Ông Lê Khắc Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 N 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ L số: 162/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 N 2022 đối với bị cáo Trần Văn N. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2022/QĐXXPT-HS ngày 13/7/2022.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 22 tháng 4 N 2022 của Tòa án nhân dân huyện L.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn N, sinh N 1977, tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Chúng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Số 426/4, ấp Hòa Bình, xã Tân Hòa, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Trần Việt H và bà Phan Thị T; Tiền sự, Tiền án: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Từ ngày 09/4/2021 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án còn có đại diện hợp pháp người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn N không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định và có nhiều N làm phụ xe (lơ xe) ô tô khách cho anh Nguyễn Hữu L. Trong thời gian làm phụ xe, những lúc đi chung, thỉnh thoảng N có điều khiển xe ô tô thay cho anh L, khi anh L có yêu cầu. Sau đó, N nghỉ việc, không làm phụ xe cho anh L mà đến thành | phố Hồ Chí Minh làm thuê để sinh sống.
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 01/3/2021, N đến ngã tư An Sương thuộc Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh gặp anh L, đi nhờ xe ôtô khách (loại xe giường nằm) biển số 51B-172.73 của anh L để về quê ở xã Tân Hòa, huyện L. Khi xe về đến khu vực vòng xoay ngã N Tân Thành thuộc xã Tân Thành, huyện L thì dừng lại để hành khách xuống xe nghỉ ngơi. Đến khoảng 05 giờ ngày 01/3/2021, N cùng với anh L, Mai Hoàng V, anh Nguyễn Ngọc S và các hành khách Đoàn Văn N, Trần Thị Huỳnh N lên xe để về địa phận xã Tân Hòa. Lúc này, do bận liên lạc điện thoại để rước khách, anh L kêu N điều khiển xe ô tô khách biển số 51B-172.73, N đồng ý. N điều khiển xe chạy trên đường Quốc lộ 54, đến gần Km16+200 thuộc ấp Tân Lộc, xã Tân Thành, huyện L, do thiếu quan sát và không làm chủ được tay lái, N đã điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái, va chạm vào xe đạp cùng chiều phía trước do ông Trần Văn A điều khiển đã chuyển hướng sang bên trái và đã qua khỏi tim đường Quốc lộ 54 được 1,7 mét. Sau khi va chạm với xe đạp của ông Ẩn, xe ô tô khách biển số 51B-172.73 tiếp tục đụng vào các cột điện và cây xanh được trồng trên vỉa hè bên trái, trước quán nước giải khát K.
Hậu quả, ông A tử vong tại hiện trường; V và anh L bị thương tích nặng tử vong trên đường đưa đi cấp cứu. Anh N bị thương nặng điều trị ở nhiều bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 12/3/2021 xuất viện; còn N, anh S và chị N bị sây sát ngoài da. Riêng xe ô tô khách biển số 51B-172.73, xe đạp màu xanh; 02 trụ điện trên vỉa hè; 05 cái bàn nhựa, 01 cây dù, mái che và nền sân trước cửa quán Kim Lài bị hư hỏng nghiêm trọng.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan cảnh sát điều tra huyện L đã thu giữ vật chứng, tài sản, đồ vật gồm:
- 01 USB hiệu Kingston màu đen, bên trong có lưu 02 đoạn Camera ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông, xảy ra ngày 01/3/2021 tại đường Quốc lộ 54, ấp Tân Lộc, xã Tân Thành, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- 01 xe ôtô khách biển số 51B-172.73, do ông Trần Thái O đứng tên chủ sở hữu.
- 01 xe đạp màu xanh của Trần Văn A
- 01 hộp thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô khách biển số 51B-172.73.
- 06 mẫu máu (nghi là máu người) trên xe ôtô khách biển số 51B-172.73 và trên 02 trụ điện. .
- Các mẫu máu, tóc, niêm mạc, nước tiểu của Trần Văn A, Mai Hoàng V, Nguyễn Hữu L, Trần Văn N và Nguyễn Ngọc S..
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ vào lúc 09 giờ 15 phút ngày 01/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, thể hiện như sau:
- Đường Quốc lộ 54 được thảm bê tông nhựa, đường bằng phẳng, không có chướng ngại vật phía trước, tầm nhìn không hạn chế. Mặt đường rộng 9,2 mét, đường tác chia làm 02 chiều, ở giữa có vạch kẻ tim đường đứt quãng màu vàng.
- Lấy cột mốc Km 16+200 làm điểm mốc. Tất cả các số đo đều được tính bằng mét và được kéo về một bên lề chuẩn bên phải theo hướng ngã N xã Tân Thành đi Vĩnh Thới.
- Tâm vùng va chạm giữa xe ô tô khách biến số 51B-172.73 và xe đạp đo vào lề chuẩn bên phải là 6,3 mét.
Tại các Kết luận giám định pháp y về tử thi số 151 TTh/TTPY, số 152 TTh/TTPY và số 167 TTh/TTPY cùng ngày 01/3/2021 kết luận:
- Nguyên nhân chết của Trần Văn Ân: Mất máu cấp do đa chấn thương, thủng tim, thủng phôi, vỡ gan.
- Nguyên nhân chết của Mai Hoàng V: Đa chấn thương: Chấn thương So não: dập nát, đứt lìa hai căng chân; gãy xương cẳng tay + xương đùi.
Nguyên nhân chết của Nguyễn Hữu L: Mất máu cấp do đa chấn ng, gãy hở khung chậu, lộ nội tạng, đứt bó mạch bẹn phải, dập đứt cơ vùng đáy chậu, rách trực tràng hậu môn, dập nát cẳng chân phải.
Tại các Kết luận giám định số 251/KL-KTHS, số 252/KL-KTHS, số. 253/KL-KTHS; số 255/KL-KTHS, số 259/KL-KTHS cùng ngày 09/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
- Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của ông Mai Hoàng V, sinh N 2005, mẫu máu được thu giữ và niêm phong từ lúc 14 giờ 10 phút đến 14 giờ 15 nhút ngày 01/3/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, tại thời điểm giám định ngày 04/3/2021 không phát hiện thành phần cồn Ethanol.
- Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của Trần Văn Ân, sinh N 1952, mẫu máu được thu giữ và niêm phong từ lúc 12 giờ 30 phút đến 12 giờ 35 phút ngày 01/3/2021 tại Trung tâm y tế huyện L, tại thời điểm giám định ngày 04/3/2021 không phát hiện thành phần cồn Ethanol.
- Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của ông Trần Văn N, sinh N 1977, mẫu máu được thu giữ và niêm phong từ lúc 09 giờ 20 phút đến 19 giờ 45 phút ngày 01/3/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, tại thời điểm giám định ngày 04/3/2021 không phát hiện thành phần cồn Ethanol. .
- Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của ông Nguyễn Ngọc S, sinh N 1983, mẫu máu được thu giữ và niêm phong từ lúc 08 giờ 30 phút đến 19 giờ ngày 01/3/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, tại thời điểm giám định ngày 04/3/2021 không phát hiện thành phần cồn Ethanol.
- Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của Nguyễn Hữu L, sinh N 1975, mẫu máu được thu giữ và niêm phong từ lúc 15 giờ 15 phút đến 15 giờ 20 phút ngày 01/3/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, tại thời điểm giám định ngày 04/3/2021 có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 16,7mg/100ml máu.
Tại các Kết luận giám định số 250/KL-KTHS, số 254/KL-KTHS; số 256/KL-KTHS cùng ngày 09/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: .
- Mẫu nước tiểu chứa trong hủ nhựa có nắp màu đỏ đậy kín, ghi thu của Nguyễn Hữu L, sinh N 1975, được thu giữ và niêm phong từ lúc 15 giờ 20 phút đến 15 giờ 25 phút ngày 01/3/2021 tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp được niêm phong nêu trên gửi giám định không phát hiện thành phần các chất ma túy thường gặp.
- Mâu nước tiểu chứa trong chai nhựa có nắp đậy kín, ghi thu của ông Trần Văn N, sinh N 1977, được thu giữ và niêm phong từ lúc 09 giờ 45 phút đến 10 giờ 10 phút ngày 01/3/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp được niêm phong nêu trên gửi giám định không phát hiện thành phần các chất ma túy thường gặp.
- Mẫu nước tiểu chứa trong chai nhựa có nắp đậy kín, ghi thu của ông Nguyễn Ngọc S, sinh N 1983, được thu giữ và niêm phong từ lúc 09 giờ 00 phút đến 09 giờ 10 phút ngày 01/3/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp được niêm phong nêu trên gửi giám định không phát hiện thành phần các chất ma túy thường gặp.
Tại Kết luận giám định số 1845/C09B ngày 22/4/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Khoa học hình sự, kết luận:
- Vết màu nâu đỏ trên các mẫu ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6 gửi giám định đều là máu người. Phân tích AND từ các mẫu máu này cho kết quả như sau:
+ Phân tích AND từ mẫu máu ký hiệu A2, A6 được kiểu gen nam giới hoàn chỉnh và trùng với kiểu gen của Trần Văn N.
+ Phân tích AND từ mẫu máu ký hiệu A1 được kiểu gen nam giới A hoàn chỉnh không trùng với kiểu gen của Trần Văn N và Nguyễn Hữu L.
+ Phân tích AND từ mẫu máu ký hiệu A4 được kiểu gen nữ giới hoàn chỉnh không trùng với kiểu gen của Trần Văn N và Nguyễn Hữu L.
+ Phân tích AND từ mẫu máu ký hiệu A5 được kiểu gen nam giới B hoàn chỉnh không trùng với kiểu gen của Trần Văn N và Nguyễn Hữu L.
+ Phân tích AND từ mẫu máu ký hiệu A3 được kiểu gen không hoàn chỉnh nên không truy nguyên được cá thể.
Tại kết luận định giá tài sản số 31/KL-ĐGTS ngày 04/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L, kết luận:
- Xe ô tô biển số 51B-172.73 là 151.550.000 đồng.
- Xe đạp Martin là 800.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại 152.350.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 40/KL-ĐGTS ngày 24/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L, kết luận:
- 02 trụ BTLT 16-PC-9.2 (920kgf), K = 2 (ĐKĐ 217mm, ngọn 10m, gốc 06m) là 29.480.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 08 (tám) N tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/4/2021.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử L vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25 tháng 4 N 2022, bị cáo Trần Văn N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Trần Văn N bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Mức án 08 (tám) N tù đối với Trần Văn N là phù hợp.
Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Trần Văn N kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn N, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản hiện trường, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở xác định: Bị cáo Trần Văn N không có giấy phép lái xe theo quy định đã có hành vi điều khiển xe ô tô khách biển số 51B-172.73 lưu thông trên đường Quốc lộ 54, hướng đi từ xã Tân Thành đến xã Vĩnh Thới, huyện L. Khi đến đoạn đường Km16+200 thuộc ấp Tân Lộc, xã Tân Thành, huyện L, do thiếu quan sát và không làm chủ được tay lái, N điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái, va chạm vào xe đạp cùng chiều phía trước do ông Trần Văn An điều khiển đã chuyển hướng đi từ bên phải sang bên trái và đã qua khỏi tim đường Quốc lộ 54. Sau khi va chạm xe đạp do ông Ân điều khiển, xe ô tô khách biển số 51B-172.73 tiếp tục đụng vào 02 trụ điện và cây xanh trước quán giải khát Kim Lài. Hậu quả, làm cho ông Trần Văn An, Mai Hoàng V và Nguyễn Hữu L bị tử vong.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn N chưa được cấp Giấy phép lái xe theo quy định để điều khiển xe ô tô nhưng bị cáo điều khiển xe tham gia giao thông thiếu quan sát và không làm chủ tay lái, lấn sang phần đường bên trái va chạm vào xe đạp cùng chiều gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm chết 03 người. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của các bị hại, gây đau thương cho gia đình của các bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 3 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Trần Văn N kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ nhưng bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn N, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo .
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Trần Văn N là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn N. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 08 (tám) N tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/4/2021.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT 1); - VKSND Tỉnh; - Ban nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - TAND huyện L (02 bản); - VKSND huyện L; - Chi cục THADS huyện L; - Cơ quan CSĐT CA h. L; - Cơ quan THAHS CA H. L; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA, (Hào). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |