- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu T pham tội “mua bán trái phép chất ma túy ” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– Bản án số: 225 /2019/HSST Ngày 29 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Quang Hoạch
Ông Nguyễn Phi Hổ
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Lương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 238/2019/TLST-HS ngày 18/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2019/QĐXXST - HS ngày 18/11/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 02 tháng 12 năm 1990 tại Phú Thọ; Nơi cư trú: ấp HL, xã HT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Bị cáo chưa có chồng nhưng bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại ( Có mặt).
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/9/2019, Đội cảnh sát kinh tế - ma túy Công an huyện Trảng Bom phối hợp Công an xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai kiểm tra hành chính tại số nhà A đường Liên ấp HB, xã ĐH thì phát hiện Nguyễn Thị Thu T đang ở nhà cùng chồng tên Nguyễn Minh P. Sau khi kiểm tra bóp da của T đang cầm trên tay, Cơ quan Công an phát hiện thu giữ:
- 06 (sáu) gói nylon hàn kín, chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong), có chữ ký của Nguyễn Thị Thu T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số sim: 0933.224.266 (không kiểm tra chất lượng); 01 (một) cân tiểu ly, màu đen (không rõ nhãn hiệu); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Ngày 10/9/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 392/QĐ, gửi Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai, giám định chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số: 1046/KLGĐ – PC09 ngày 19/9/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
+ Một (01) được niêm phong vẫn còn nguyên vẹn, trên phong bì có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Thu T và dấu hình tròn màu đỏ không rõ. Sau khi mở niêm phong, bên trong có 06 (sáu) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng 1,6656 gam, loại: Methamphetamine.
Ngày 23/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Thu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra bị can Thảo đã khai nhận:
T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2019 loại ma túy đá. Để thỏa mãn cơn nghiện Thảo thường liên lạc mua ma túy với đối tượng tên Q ở xã TH (không rõ họ tên thật, địa chỉ), bằng điện thoại 0933.224.266 của T, mỗi lần mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn), T về phân chia thành các gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Khoảng 11 giờ ngày 04/9/2019, T liên lạc từ số 0933.224.266 đến số điện thoại của Q (T không nhớ số điện thoại của Q), hỏi mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn), tiền ma túy đá, Q đồng ý và mang ma túy đến nhà của T thuê ở ấp HB, xã ĐH để bán cho T. T lấy một ít ra sử dụng và phân chia ra được 03 (ba) gói nhỏ. Khoảng 10 giờ ngày 07/9/2019, có đối tượng Phạm Trần Thanh H, là đối tượng nghiện ma túy, hỏi mua 01 (một) gói ma túy với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), Thảo đồng ý bán cho H tại nhà, còn lại 02 (hai) gói ma túy, T cất giấu trong bóp da. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T tiếp tục điện thoại cho Q, hỏi mua thêm 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn), tiền ma túy, Q mang ma túy đến nhà cho T, T phân thành 04 (bốn) gói nhỏ và cất giấu trong bóp da màu hồng, mục đích để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời.
Tại bản cáo trạng số 252/CT-VKS-HS ngày 18/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo:
- Nguyễn Thị Thu T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu 01 (Một) phong bì niêm phong sau giám định số: 1046/PC09-GĐMT ngày 19/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai, 01 (một) cân tiểu ly màu đen (không rõ nhãn hiệu) và 01 sim số 0933.224.266; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; Đề nghị HĐXX tịch thu sung công 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng của bị cáo T sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Bị cáo T không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 11 giờ ngày 04/9/2019, Nguyễn Thị Thu T gọi điện thoại hỏi Q mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn) tiền ma túy đá, sau khi có ma túy Thảo lấy một ít ra sử dụng và phân chia ra được 03 (ba) gói nhỏ. Khoảng 10 giờ ngày 07/9/2019, tại đường liên ấp HB, xã ĐH, huyện TB T đã bán cho đối tượng nghiện tên là Phạm Trần Thanh H 01 (một) gói ma túy với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), còn lại 02 (hai) gói ma túy T cất giấu trong bóp da. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T tiếp tục điện thoại cho Q, hỏi mua thêm 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn) tiền ma túy, sau đó T phân thành 04 (bốn) gói nhỏ và cất giấu trong bóp da màu hồng, mục đích để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời thì bị bắt quả tang. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ yếu tố kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn là mầm móng của nhiều loại tội phạm khác, đe doạ đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và cũng để răn đe phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định số: 1046/PC09-GĐMT ngày 19/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai, 01 (một) cân tiểu ly màu đen (không rõ nhãn hiệu) và 01 sim số 0933.224.266. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng của bị cáo T sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng Q bán ma tuý cho bị cáo T không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không có cơ sở điều tra làm rõ, xử lý.
Đối với Phạm Trần Thanh H, Nguyễn Minh P là các đối tượng “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành hình phạt.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì có đóng dấu niêm phong số 1046/PC09-GĐMT ngày 19/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai, 01 (một) cân tiểu ly màu đen (không rõ nhãn hiệu) và 01 sim số 0933.224.266. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn tính từ
ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom; - Bộ phận T.H.A hình sự; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hồng Ngọc |