vanban.org

Bản án 225/2019/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 54, Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật HN&GĐ; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn ông Thái Văn T. 2/ Về con chung: có 02 con chung Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn THị C - Thái Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 54, Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật HN&GĐ; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 225/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 01-11-2019
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Lan

2. Ông Phạm Hữu Kinh

- Thư ký phiên tòa: ông Hồ Quốc Việt – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã

Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện

Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

a/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1988; địa chỉ: Khối 4, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam (có mặt)

b/ Bị đơn: Ông Thái Văn T, sinh năm: 1984; địa chỉ: Thôn B, xã Điện Q, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28/7/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bà Nguyễn Thị C trình bày:

Bà và ông Thái Văn T sống chung với nhau vào năm 2004 nhưng đến ngày 05/6/2006 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Điện Q, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung. Vì vậy, vợ chồng không còn sống chung với nhau vài năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Thái Văn T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Thái Minh H, sinh ngày 07/10/2004 và Thái Minh Q, sinh ngày 25/11/2005. Hiện nay cả 2 cháu đang sống cùng bà C. Khi ly hôn bà có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn, ông Thái Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện VKSND thị xã Điện Bàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.

Quá trình Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn chấp hành tốt quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án Viện kiểm sát cho rằng: việc mâu thuẫn của các đương sự đã trầm trọng, các bên đương sự đã tự sống ly thân nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung đề nghị giao cháu Thái Minh H, sinh ngày 07/10/2004 và Thái Minh Q, sinh ngày 25/11/2005 cho bà Nguyễn Thị C tiếp tục nuôi dưỡng, bà C không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và bị đơn ông Thái Văn T. Bị đơn có HKTT tại địa chỉ: thôn B, xã Điện Q, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Bị đơn ông Thái Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị C và ông Thái Văn T có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng hay cãi vã nhau, tình cảm ngày càng phai nhạt và vợ chồng đã sống ly thân. Nay bà C thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên kiên quyết xin ly hôn với ông T .

Ông Thái Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của nguyên đơn chứng tỏ ông là người coi thường pháp luật, không coi trọng cuộc hôn nhân của mình. Qua xác minh tại chính quyền địa phương đã xác nhận: nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng thì chính quyền địa phương không rõ. Tuy nhiên, vợ chồng ông T, bà C đã không còn sống chung từ vài năm nay. Xét thấy tình cảm của bà C đối với ông T không còn, thực tế vợ chồng đã sống ly thân nên mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn ông Thái Văn T là phù hợp.

Về nuôi con chung: Bà C và ông T có 02 con chung tên là Thái Minh H, sinh ngày 07/10/2004 và Thái Minh Q, sinh ngày 25/11/2005. Bà C có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bà C và ông T không còn sống chung với nhau từ vài năm nay, hiện tại cháu Thái Minh H và cháu Thái Minh Q đang sống cùng bà C và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày nên không thể xem xét nguyện vọng của ông được. Con chung đang ở độ tuổi thiếu niên nên cần sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống tốt nhất về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ thống nhất giao con chung là Thái Minh H, sinh ngày 07/10/2004 và Thái Minh Q, sinh ngày 25/11/2005 cho bà Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị C không yêu cầu ông Thái Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Thái Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị C là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 54, Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật HN&GĐ; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn ông Thái Văn T.

2/ Về con chung: có 02 con chung

Giao con chung là Thái Minh H, sinh ngày 07/10/2004 và Thái Minh Q, sinh ngày 25/11/2005 cho bà Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị C không yêu cầu ông Thái Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Thái Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0002032 ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Nguyễn Thị C đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ