vanban.org

Bản án 225/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Tuyên án 12/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng

một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ T,
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 225/2019/DS-ST
Ngày: 12 – 8 – 2019
V/v tranh chấp dân sự
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Trí Thiện

2. Bà Trần Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú T, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T tham gia phiên tòa:

Ông Lê Hữu Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú T xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2019 về

tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

97/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ ThịS – Sinh năm 1965 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ 7, ấp Phú Đ, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn:

2.1. Trần Văn T – Sinh năm 1968 (vắng mặt);

2.2. Đỗ Thị Ngọc D – Sinh năm 1970 (vợ anh T), vắng mặt.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 14, ấp Phú Q, xã Phú A, huyện Phú T, tỉnh An

Giang.

Đăng ký thường trú: Ấp Cái T, thị trấn Phú M, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

3. Người làm chứng:

3.1. Chị Trương Thị T1 – Sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 30, tổ 2, ấp Phú H, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

3.2. Anh Ngô Đức T2 - Sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 752, tổ 11, ấp Phú X, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12-02-2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ

án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là chị Võ ThịS trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết, nên năm 2017 chịS cho vợ chồng bị đơn là anh

Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D vay tiền ba lần để trả nợ ngân hàng, ba lần vay tiền đều do anh T viết biên nhận và ký tên, cụ thể;

- Lần 1: Ngày 10-10-2017 vay 20.000.000đ;

- Lần 2: Ngày 25-10-20107 vay 20.000.000đ;

- Lần 3: ngày 11-11-2017 vay 20.000.000đ.

Mức lãi suất 3%/tháng, trả tiền vốn và tiền lãi trả một lần vào tháng 01-2018,

nhưng đến hạn không trả tiền vốn và tiền lãi, chị đến nhà đòi nhiều lần bị đơn hứa hẹn nhưng không trả. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D trả tiền vốn 60.000.000đ và phải tính tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày vay cuối cùng là ngày 11-11-2017 đến nay.

Bị đơn là anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ

nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không gửi ý kiến bằng văn bản, nên không có lời khai.

ChịS cung cấp chứng cứ là người làm chứng tên Trương Thị T1 và Ngô Đức

T2 biết anh T, chị D có thiếu chịS số nợ trên, chị đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ.

Tại biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 10-5-2019, chị Trương Thị T1 cho

biết chị và chịS có quen biết nhau, còn anh T, chị D thì chị không biết, nhưng chị biết anh T, chị D khoảng tháng 10-2017 do chịS đưa chị D, anh T đến nhà chị giới thiệu để vay tiền, chị không đồng ý vì không biết D, T, chịS nói chị vay dùm cho D, T, chị nói chỉ biết chịS, nếu chịS vay thì chị cho vay, lúc này chịS hỏi vay 20.000.000đ và chị đưa cho chịS 20.000.000đ, mức lãi 3%/tháng, chịS nhận tiền và đưa ngay lại cho anh T nhận và anh T đếm lại tiền cho biết là đã đủ 20.000.000đ rồi đưa lại cho chị D là vợ anh T, giữa chị với chịS không làm biên nhận vì tin tưởng nhau.

Khoảng 10 ngày sau, cũng trong tháng 10-2017, chịS đến nhà chị hỏi vay thêm

20.000.000đ, lãi 3%/tháng, nói mượn để đưa cho T, D mượn lại, lúc này không có mặt anh T, chị D, chịS điện thoại di động cho chị D nói chuyện với chị, D nói cho mượn đi, sau này sẽ đưa tiền cho chịS trả, chị nói chỉ biết chịS và cho chịS vay, ngay lúc này chịS tiếp tục điện thoại di động cho anh T nói đã hỏi mượn tiền được rồi nên điện thoại cho anh T để vợ chồng cùng biết, rồi chịS đưa điện thoại cho chị nói chuyện với anh T, anh T nói với chị đưa cho chịS mượn đi sau này sẽ đưa tiền cho chịS trả, chị nói với anh T chỉ biết chịS và đã đưa tiền cho chịS rồi.

Ngày 11-11-2017 chịS đến nhà chị tiếp tục hỏi vay 20.000.000đ nữa, lãi

3%/tháng, cũng nói mượn để cho anh T, chị D mượn lại, lần này không có mặt anh T,

chị D, chịS cũng điện thoại cho chị D, anh T và đưa điện thoại cho chị nói chuyện với

hai người này, nội dung nói chuyện như trên.

Tổng cộng 03 lần vay số tiền vốn 60.000.000đ, chịS đã trả cho chị tiền vốn và

tiền lãi đầy đủ, hiện chịS không còn thiếu chị khoản tiền nào. Chị xác định anh T, chị

D có thiếu chịS 60.000.000đ.

Tại biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 21-5-2019 anh Ngô Đức T2 trình bày,

anh với chị Võ ThịS và vợ chồng Trần Văn T, Đỗ Thị Ngọc D có mối quan hệ bạn

bè, không bà con với bên nào.

Khoảng cuối năm 2017 (không nhớ ngày tháng), chịS cùng vợ chồng chị D, anh

T đến nhà anh hỏi mượn 20.000.000đ để làm công chuyện, không nói để làm gì, anh

nói lúc này không có tiền nên không cho mượn, chịS và chị D, anh T đi về.

Sau đó (không nhớ ngày tháng) gần tết Nguyên Đán năm 2018, khoảng 19 giờ

chịS điện thoại cho anh nói “Mầy rảnh không ra chợ uống cà phê với tao, có vợ

chồng D ở đây”, anh hỏi quán nào, chịS nói quán thằng Ca (chủ quán tên Ca tại Chợ

Vàm, không có tên quán, chỉ bán cà phê buổi tối), anh chạy xe máy tới quán gặp chịS

và vợ chồng T, D, trong lúc uống cà phê chịS nói đã mượn tiền cho vợ chồng D được

rồi, mượn trước sau là 60.000.000đ, anh hỏi chị D mượn được rồi hả chị, chị D trả lời

Dì Bảy (là chịS, vì chịS thứ Bảy nên chị D, anh T gọi Dì Bảy) mượn dùm được rồi và

không nói mượn của ai, anh cũng không hỏi, sau đó anh chạy xe đi công việc của

anh.

Đến năm 2018, khoảng giữa tháng Giêng (không nhớ rõ ngày tháng cụ thể) chịS

điện thoại rủ anh đến nhà vợ chồng chị D ở ấp Phú Quới, xã Phú An, huyện Phú Tân

để lấy lại số tiền trên, anh cùng đi với bàS gặp vợ chồng chị D, anh T tại nhà (vừa là

nhà ở, vừa làm lò sấy lúa nếp), chịS nói với vợ chồng chị D “Lo trả lại tiền mượn

hôm trước để tao trả lại cho người ta”, anh T nói “Dì Bảy (là gọi bàS) nán cho con ít

bửa con gởi tiền lại cho”, D nói “Dì Bảy, ông T nói là có, nán cho con ít bửa con trả

đủ hết”, sau đó anh và chịS đi về. Khoảng vài ngày sau, chịS điện thoại cho anh nói

vợ chồng D hứa mà chưa thấy trả, tao với mày xuống nhà nó để kêu nó trả, anh cùng

chịS đến nhà vợ chồng chị D, gặp vợ chồng chị D ở nhà, ngồi nói chuyện vài phút,

chị D kêu chịS vào phòng nói chuyện, còn anh và anh T ngồi tại chỗ, một lúc sau

chịS đi ra, anh hỏi có tiền chưa, chịS nói nó hứa ngày 30 tháng Giêng trả, chịS nói

với anh T sao D hứa hoài, anh T nói dì nán ít bửa con tính công chuyện xong trả cho

dì, chịS nói mày phải trả cho tao để hoài không được, sau đó anh và chịS đi về. Anh

xác định vợ chồng chị D, anh T có thiếu chịS số tiền 60.000.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật, đối với anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh T, chị D chấp hành pháp luật tố tụng chưa nghiêm. Về giải quyết vụ án, chị Võ ThịS yêu cầu anh T, chị D trả số tiền gốc 60.000.000đ và tính tiền lãi, mặc dù anh T ký tên biên nhận nợ, nhưng mỗi lần vay tiền chị D đều biết; theo lời khai của hai người làm chứng là chị Trương Thị T1, anh Ngô Đức T2 đều xác định bị đơn có vay tiền của nguyên đơn, do đó chịS yêu cầu anh T, chị D trả số tiền vay 60.000.000đ và tính lãi là có căn cứ theo Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Chị Võ ThịS khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn T, chị Đỗ

Thị Ngọc D trả tiền nợ vay, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D.

Xét yêu cầu của chị Võ ThịS đòi anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D trả

tiền nợ gốc 60.000.000đ và tính tiền lãi, Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù tại phiên tòa anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D vắng mặt, nhưng hai bên vay tiền có biên nhận nợ, một mình anh T ký tên, nhưng mỗi lần vay tiền chị D đều biết, qua lời khai của hai người làm chứng Trương Thị T1, Ngô Đức T2 phù hợp với lời khai của chịS. Từ những chứng cứ này cho thấy anh Trần Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc D đã vay tiền của chịS 60.000.000đ là có thật, nhưng anh T, chị D chưa trả, do đó chịS yêu cầu anh T, chị D trả số tiền trên là có cơ sở. Căn cứ Điều 463, 466 Bộ Luật dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chịS và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tiền lãi, căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số

01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Tiền lãi được tính như sau:

Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả: Từ ngày 11-12-2017 đến tháng 01-

2018 là 02 tháng: 60.000.000đ x 1,66%/tháng x 02 tháng = 1.992.000đ;

Chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn còn phải trả lãi trên nợ lãi theo mức lãi

suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc. Mức lãi suất quy định tại khoản

2 Điều 468 là 0,83%/tháng (10%/năm), thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc từ

tháng 02-2018 đến nay là 19 tháng: 1.992.000 x 0,83%/tháng x 19 tháng = 314.000đ;

Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả: Từ tháng 02-2018 đến nay là 19 tháng:

60.000.000đ x 1,66%/tháng x 19 tháng = 18.924.000đ.

Tổng cộng tiền lãi là: 21.230.000đ (1.992.000đ + 314.000đ + 18.924.000đ).

Như vậy, anh T, chị D phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chịS tiền nợ gốc

60.000.000đ và tiền lãi 21.230.000đ, tổng cộng tiền nợ gốc là tiền lãi là 81.230.000đ.

Về án phí sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận

toàn bộ, bị đơn là anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị Ngọc D phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 357, Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 147,

khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày

11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng

một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Võ ThịS. Buộc anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị

Ngọc D có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Võ ThịS số tiền nợ gốc 60.000.000đ và tiền

lãi 21.230.000đ, tổng cộng tiền nợ gốc và tiền lãi là 81.230.000đ.

2. Về án phí:

+ Anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị Ngọc D phải chịu án phí sơ thẩm là

4.061.000đ.

+ Hoàn trả 1.500.000đ tiền tạm ứng án phí cho chị Võ ThịS theo biên lai thu

tiền số 0005485 ngày 15-02-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh

An Giang.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ

quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có

đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Chị Võ ThịS có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án. Anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị Ngọc D vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ