- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thai S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG ——————— Bản án số: 225/2018/HS-ST |
Ngày 22 - 8 - 2018
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Nhung, thư ký Tòa án nhân dân thị xã D.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 214/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thái S, sinh năm 1994 tại tỉnh K; thường trú: Ấp C, xã B, huyện V, tỉnh K; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Anh H, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1972 (đã chết); có 02 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 01/5/2018, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Hồng S, sinh năm 1985; thường trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đ; chỗ ở: khu phố 2, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Cao Bình M, sinh năm 1990; thường trú: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh T; chỗ ở: khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
2. Chị Võ Thị T, sinh năm 1994; thường trú: Khóm 2, phường H, thị xã G, tỉnh B; chỗ ở: ấp 4, xã T, thành phố B, tỉnh Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thái S là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 9/2017 cho đến ngày bị bắt. Loại ma túy S sử dụng là ma túy đá, tên khoa học là Methamphetamine.
Vào khoảng 18 giờ ngày 30/4/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thái S sử dụng điện thoại di động hiệu Masstel A116, sim số 092xxx751 gọi vào điện thoại sim 09xxx12829 cho một người đàn ông tên Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá. Sau đó, S đến cổng chào khu phố T, phường TB, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì gặp Q, bán cho 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá 700.000 đồng. Mua xong, Sơn cất gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi trở về phòng trọ của mình tại phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S mang theo 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến phòng trọ của Võ Thị T tại khu phố T, phường TB, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì gặp T và Bùi Vũ P đang chơi ở phòng trọ. Khi P vào trong nhà vệ sinh, còn T đang nhuộm tóc không để ý đến S, S lấy gói ma túy đá ra cho một ít vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, số ma túy còn lại S cất vào túi quần bên phải. Khi P từ nhà vệ sinh ra thì S rủ P sử dụng chung ma túy có trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy S nhờ P chở về phòng trọ của S ở phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 01 giờ ngày 01/5/2018 P điều khiển xe mô tô hiệu POMUSPACYAN biển số 65F5-3xx9 chở S đi đến đoạn đường liên huyện thuộc tổ 1, khu phố T, phường TB, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường TB thấy có dấu hiệu nghi vấn nên kiểm tra hành chính, phát hiện trong áo của S có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và trong túi quần trước bên phải của S có 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thái S cùng tang vật.
Căn cứ vào bản kết luận giám định số 258/MT-PC54 ngày 08/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói nylon miệng kéo dính là ma túy, có trọng lượng là 0,5980 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon miệng kéo dính chứa ma túy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Masstel A116 màu xanh đen, sim số 0923307751; 01 xe mô tô hiệu POMUSPACYAN biển số 65F5-3839, số khung 0031S070080, số máy 310323038 màu xám bạc.
Đối với người đàn ông tên Q đã bán ma túy cho Sơn hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Bùi Vũ P sử dụng xe mô tô hiệu POMUSPACYAN biển số 65F5-3xx9 số khung 0031S070080, số máy 310323038 màu xám bạc, qua điều tra xác minh được xe của chị Võ Thị T cho Bùi Vũ P mượn, chị T không biết việc P dùng xe mô tô chở S có ma túy trong người nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại cho chị T.
Tại cáo trạng số 227/CT-VKS ngày 01 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thái S về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An thay đổi tội danh nhẹ hơn so với quyết định truy tố từ “Tội vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 sang “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong có chứa 0,4912 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel A116 sim số 0923307751.
Tại phiên tòa, trong phần thực hiện nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Nguyễn Thái S là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy S dùng là Methamphetamine. Vào khoảng 18 giờ ngày 30/4/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên S sử dụng điện thoại di động hiệu Masstel A116, sim số 092xxx7751 gọi vào điện thoại số 092xxx2829 cho một người đàn ông tên Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá. Sau đó, S đến cổng chào khu phố T, phường TB, thị xã D, tỉnh Bình Dương gặp Q và được Q bán cho 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá 700.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S mang theo 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến phòng trọ của Võ Thị T tại khu phố T, phường TB, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì gặp T và Bùi Vũ P đang chơi ở phòng trọ. Khi P vào trong nhà vệ sinh, còn T đang nhuộm tóc không để ý đến S, S lấy gói ma túy đá ra cho một ít vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, số ma túy còn lại S cất vào túi quần bên phải. Khi P từ nhà vệ sinh ra thì S rủ P sử dụng chung ma túy có trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì P đồng ý. Sau đó S nhờ P chở về phòng trọ của S ở phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 01 giờ ngày 01/5/2018 P điều khiển xe mô tô hiệu POMUSPACYAN biển số 65F5-3xx9 chở S đi đến đoạn đường liên huyện thuộc tổ 1, khu phố T, phường TB, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường TB kiểm tra hành chính, phát hiện trong áo của S có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và trong túi quần trước bên phải của S có 01 gói nylon hàn kín chứa Methamphetamine, trọng lượng 0,4912 gam.
Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
.......
c) Heroin, Cocaine, Methemphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
.......
Hành vi của bị cáo tàng trữ 01 gói ma túy Methamphetamine, trọng lượng 0,4912 gam để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 227/CT - VKS ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động nghiện ma túy.
[7] Xử lý vật chứng:
- Xét điện thoại di động hiệu Masstel A116 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Xét sim số 09xxx07751, hiện không còn giá trị sử dụng và số ma túy Methamphetamine, trọng lượng sau giám định là 0,4912 gam là vật cấm lưu thông, cần tịch thu tiêu hủy.
Quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/5/2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy sim số 09xxx07751 và 01 phong bì được niêm phong chứa Methamphetamine, trọng lượng sau giám định là 0,4912 gam;
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu Masstel A116.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2018).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thái S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niên yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND huyện V, tỉnh K (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Quân |