- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Dúa N - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự - Tuyên bố
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 224/2026/HS-ST Ngày 08 - 9 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Bích; ông Nguyễn Văn Phúc
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Hùng; ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 174/2026/HSST-QĐ ngày 26 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Dúa N, sinh năm 1970, tại xã Nậm T, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản Co D, xã Nậm T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Chưa học phổ thông; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Giàng Chống Ch (đã chết) và bà Hờ Thị D (đã chết); bị cáo có vợ là Mùa Thị H (tên gọi khác H) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/7/2013 bị Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2026 cho đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh Hùng – Luật sư thự hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 10 phút ngày 04/3/2026, tổ công tác Công an xã Nậm T, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản Co D, xã Nậm T, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Giàng Dúa N, sinh năm 1970, trú tại bản Co D, xã Nậm T, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để bán kiếm lời, vật chứng thu giữ gồm:
- 02 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng nghi là ma tuý tổng hợp; 02 lọ nhựa bên trong có tổng 29 túi nilon đều chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 điện thoại di động; 01 túi vải đeo chéo; 01 bật lửa ga và 01 mạnh kim loại.
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 05/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc niêm phong cân tịnh, xác định khối lượng và lấy mẫu trưng cầu giám định, kết quả: 02 gói nilon màu xanh bên trong chứa 352 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 33,15 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, đánh ký hiệu N1, N2.
- 29 túi nilon đều chứa chất bột màu trắng có tổng khối lượng 29,61 gam lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, đánh ký hiệu từ N3 đến N31.
Tại bản Kết luận giám định số 506/KL-KTHS ngày 11/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu NI, N2 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là N1 = 18,53 gam, N2 = 14,62 gam.
- Mẫu gửi giám định N3 đến N31 có tổng khối lượng 29,61 gam là ma tuy, loại Heroine.
Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 33,15 gam Methamphetamine và 29,61 gam Heroine.
Quá trình điều tra Giàng Dúa N khai nhận hành vi như sau: Khoảng đầu tháng 02/2026, Giàng Dúa N một mình mang theo 3.500.000 đồng, đi bộ từ nhà ở bản Co D, xã Nậm T đến bản Hua Cắt, xã Nậm T, tỉnh Sơn La mục đích mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi, gặp Vừ Chữ Chỉa, sinh năm 1982, trú tại bản Hua Cắt, xã Nậm T đang đi bộ ven đường (người quen biết từ trước). N biết Chỉa sử dụng ma túy nên hỏi mua 02 túi hồng phiến và 01 cây Heroine, Chỉa đồng ý, hai bên thoả thuận giá mua bán 02 túi hồng phiến giá 4.000.000 đồng, 01 cây Heroine gái 14.500.000 đồng, tổng cộng là 18.500.000 đồng. N trả trước 3.500.000 đồng, còn lại 15.000.000 đồng sẽ trả sau, Chỉa đồng ý và bảo N chờ, còn Chỉa đi một lúc sau quay lại đưa cho N 02 túi hồng Phiến và 01 cây Heroine, N nhận ma túy rồi trả cho Chỉa 3.500.000 đồng Mua được ma tuý, N đi vào bụi cây gần đó, lấy số ma túy ra kiểm tra thấy túi thứ nhất có chứa 195 viên, túi thứ hai có chứa 160 viên hồng phiến và gói nilon có chứa Heroin. N lấy 01 viên hồng phiến và một ít Heroine ra sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong N nhặt lấy 02 lọ nhựa và các mảnh nilon ven đường, rồi chia gói Heroin thành 29 gói nhỏ cho vào trong 02 lọ nhựa, rồi cho toàn bộ số ma tuý vừa mua được cho vào trong túi đeo chéo đi bộ quay về nhà. Về đến nhà, N cất túi đựng ma túy trên cột nhà, từ lúc mua được ma túy đến khi bị bắt, N sử dụng hết 03 viên hồng phiến và đã bán ma tuý cho 06 - 07 người đàn ông không quen biết với tổng số tiền 1.000.000 đồng. Khoảng 19 giờ ngày 04/3/2026, N mang theo túi đựng ma túy đi đến khu vực bản Co D, xã Nậm T, tỉnh Sơn La mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã Nậm T, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số 95/CT-VKS-P1 ngày 27 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La để xét xử bị cáo Giàng Dúa N về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Dúa N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Giàng Dúa N phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giàng Dúa N từ 17 năm đến 18 năm tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu để tiêu huỷ: N1 = 18,47 gam, N2 =14,54 gam, N3 =3,65 gam, N4 = 4,07 gam, N5 = 3,72 gam, N6 = 3,46 gam, N7 = 2,72 gam, N8 = 0,90 gam, N10 = 1,80 gam, N31 = 0,60 gam đều là ma tuý gồm Heroine và Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon màu xanh; 18 mảnh nilon màu xanh; 11 mảnh nilon màu vàng và 02 lọ nhựa; 01 túi đeo chéo; 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu “THONGHAT”; 01 mảnh kim loại bị cháy xém; vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở.
- Trả lại cho bị cáo Giáng Dúa N 01 chiếc điện thoại màu đen nhãn hiệu Masstel.
Về án phí: Bị cáo Giàng Dúa N là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Giàng Dúa N không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh Hùng – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La: Hành vi của bị cáo Giàng Dúa N đã thực hiện là vi phạm pháp luật, việc khởi tố, truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo Giàng Dúa N chưa được học phổ thông, nên hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế. Sau khi hành vi phạm tội của mình bị phát hiện, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc tiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Dúa N mức án thấp nhất mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến gì bổ sung thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 04/3/2026 bị cáo Giàng Dúa N có hành vi cất giấu 33,15 gam ma túy, loại Methamphetamine và 29,61 gam ma tuý, loại Heroine. Tổng khối lượng của 02 chất ma tuý là 62,76 gam, mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Giàng Dúa N thực hiện đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
Về tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề có liên quan:
Về nguồn gốc ma tuý 62,76 gam (trong đó 33,15 gam Methamphetamine và 29,61 gam Heroine), bị cáo Giàng Dúa N khai mua của Vừ Chữ Chỉa, sinh năm 1982, trú tại bản Hua Cắt, xã Nậm T, tỉnh Sơn La vào đầu tháng 02/2026. Cơ quan điều tra đã thu thập ảnh của Vừ Chữ Chỉa cho bị cáo nhận dạng. Kết quả, N nhận dạng được Chỉa và xác định là người đã bán ma tuy cho bị cáo. Kết quả điều tra, tại bản Hua Cắt, xã Nậm T, tỉnh Sơn La Vừ Chữ Chỉa đã chết do bệnh lý vào ngày 16/02/2026. Do đó không đặt vấn đề xử lý đối với Chỉa, buộc Giàng Dúa N phải chịu trách nhiệm về số ma tuy đã thu giữ.
Đối với những đối tượng đến mua ma tuy của Giàng Dúa N, quá trình điều tra N không biết tên, địa chỉ của những người này, ngoài lời khai của bị cáo, không có căn cứ, chứng cứ nào khác để mở rộng vụ án.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của N, bị cáo N không thuộc chủ thể quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, nguồn gốc ma tuý bị cáo sử dụng nằm trong số ma tuý bị xử lý hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử phạt hành chính đối với bị cáo về hành vi này là có căn cứ.
Vật chứng của vụ án: Đối với N1 = 18,47 gam, N2 =14,54 gam, N3 =3,65 gam, N4 = 4,07 gam, N5 = 3,72 gam, N6 = 3,46 gam, N7 = 2,72 gam, N8 = 0,90 gam, N10 = 1,80 gam, N31 = 0,60 gam đều là ma tuý gồm Heroine và Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon màu xanh; 18 mảnh nilon màu xanh; 11 mảnh nilon màu vàng và 02 lọ nhựa; 01 túi đeo chéo; 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu “THONGHAT”; 01 mảnh kim loại bị cháy xém; vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở là vật cấm lưu hành và những vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại màu đen nhãn hiệu Masstel thu giữ của bị cáo Giàng Dúa N. Được xác định là tài sản của bị cáo, nhưng bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Bị cáo Giàng Dúa N là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
- Tuyên bố bị cáo Giàng Dúa N phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng Dúa N 17 (mười bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2026.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy N1 = 18,47 gam, N2 =14,54 gam, N3 =3,65 gam, N4 = 4,07 gam, N5 = 3,72 gam, N6 = 3,46 gam, N7 = 2,72 gam, N8 = 0,90 gam, N10 = 1,80 gam, N31 = 0,60 gam đều là ma tuý gồm Heroine và Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon màu xanh; 18 mảnh nilon màu xanh; 11 mảnh nilon màu vàng và 02 lọ nhựa; 01 túi đeo chéo; 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu “THONGHAT”; 01 mảnh kim loại bị cháy xém; vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở.
- Trả lại cho bị cáo Giàng Dúa N 01 chiếc điện thoại màu đen nhãn hiệu Masstel.
Các vật chứng trên đang được bảo quan tại kho vật chứng Phòng PC10 Công an tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Giàng Dúa N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/9/2026).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS nhân dân khu vực 3 - Sơn La (03); - Trại giam; - TAND tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - THAHS; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Sơn La; - Người bào chữa cho bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |