- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của à Nguyễn Th H; giữ nguyên ản án s thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 224/2022/HS-PT Ngày: 24-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tào
Các Thẩm phán:
Ông Trương Công Thi
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.
Vào ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022 đối với cáo Đặng Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của b hại đối với Bản án hình sự s thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bị cáo bị kháng cáo
Đặng Văn T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 27 tháng 11 năm 1987 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; n i đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Môi giới ất động sản; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt N; con ông Đặng Văn T; sinh năm: 1957 và à Nguyễn Th Minh H ( đã chết ); vợ, con: chưa; gia đình có 04 anh ch em ruột, cáo là con thứ a; tiền án, tiền sự: Không. B ắt truy nã ngày 09/4/2021, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đến ngày 23/7/2021, được thay thế iện pháp ngăn chặn cho ảo lĩnh. B cáo tại ngoại. Có mặt.
Người ào chữa cho cáo Đặng Văn T: Luật sư Lê Bá Nhật B, Văn phòng luật sư L, Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Th H, sinh năm 1966. Đ a chỉ: thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị H: Luật sư Nguyễn Tuấn A, Văn phòng luật sư A, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đặng Văn T, sinh năm 1957. Đ a chỉ: thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
2. Bà Lê Th Thùy D, sinh năm 1975. Đ a chỉ: thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng.
3. Ông Tống Phước T, sinh năm 1974. Đ a chỉ: thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tống Phước T và bà Lê Thị Thùy D: Ông Võ Văn T; Đ a chỉ: thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 10 năm 2016, à Nguyễn Th H, sinh năm: 1966, trú tại thành phố H, cùng con gái à H là ch Hoàng Nguyễn Trung T nộp đ n tham gia đấu giá đất tại Khu quy hoạch B giai đoạn 3 (đợt 1) thuộc phường T, thành phố H do Công ty TNHH một thành viên D ch vụ đấu giá X thực hiện; nộp tiền cọc 152.160.000 đồng để đấu giá lô đất B2. Ngày 17/10/2016, à H đấu lô đất B2 nhưng không trúng, với mong muốn được đấu giá lô đất lớn h n là lô đất có ký hiệu A4, nhưng số tiền cọc không đủ để tham gia đấu giá. Lúc này, Đặng Văn T đang đấu giá các lô đất khác nên à H nhắn tin nhờ T đấu giúp lô A4 cho con gái thì T đồng ý (do T nộp tiền cọc số tiền lớn h n nên được đấu lô giá cao h n). Mức giá khởi điểm đầu lô A4 là 1.058.640.000 đồng. Bà H và T thỏa thuận, nếu đấu trúng lô A4 à H sẽ lo mọi chi phí để T ra thẻ, sau đó sang tên cho con gái à và à sẽ trả thù lao cho T 30.000.000 đồng. Quá trình đấu giá, à H thống nhất với T giá đấu lô A4 là 1.095.000.000 đồng, khi đấu giá T đưa ra mức giá và đấu trúng lô đất này với giá 1.091.500.000 đồng. Đấu giá xong, à H có đưa T số tiền 3.500.000 đồng, tiền T được hưởng do T đưa ra mức giá thấp h n. Sau đó, à H chuyển tiền cho T 04 lần với tổng số tiền là 1.208.790.000 đồng (Một tỷ hai trăm lẻ tám triệu ảy trăm chín mư i nghìn đồng) để làm thủ tục ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chi phí sang tên qua con gái của à H là ch T, cụ thể: lần thứ nhất ngày 19/10/2017, à H đưa tiền mặt cho T số tiền 158.790.000 đồng ( ằng mức tiền cọc lô A4) tại quán cà phê H, thành phố H; lần thứ hai ngày 01/11/2016, à H vay tiền tại ngân hàng X N Thừa Thiên Huế số tiền 400.000.000 đồng, sau đó chuyển toàn ộ cho T; lần thứ a ngày 12/11/2016, T đến cửa hàng xi măng G5 của à H tại lô M08 khu quy hoạch Bàu Cá, phường T, thành phố H nhận tiền từ Hoàng Nguyễn Trung T (con gái ch H) số tiền là 100.000.000 đồng; lần thứ tư ngày 16/11/2016, à H đến ngân hàng X tại 40 Lê Lợi, thành phố H nộp tiền mặt vào tài khoản của Đặng Văn T, số tiền là 550.000.0000 đồng.
Số tiền nhận được của à H, T đã nộp tiền trúng đấu giá lô đất A4 là 03 lần với tổng số tiền là 1.091.500.000 đồng, số còn lại T sử dụng vào việc cá nhân, cụ thể: Ngày 04/11/2016, T nộp tiền vào ngân sách Nhà nước với số tiền là 158.790.000 đồng; Ngày 16/11/2016, T nộp tiền vào ngân sách Nhà nước cùng nội dung nộp tiền vào lô A4 hai lần, với số tiền lần lượt là 927.280.000 đồng và 5.430.000 đồng.
Cùng ngày 16/11/2016, Nguyễn Nhật C (Sinh năm 1990, trú tại th xã H ) nhờ T mượn tiền của Hoàng Trọng N (Sinh năm 1981, trú thành phố H) giúp cho C. Vì có quen iết với C nên T đến gặp Hoàng Trọng N mượn số tiền là 1.500.000.000 đồng trong thời hạn 02 tháng. Do iết T mới đấu trúng 02 lô đất nền N đồng ý cho T mượn số tiền 1.500.000.000 đồng (trong đó 1.300.000.000 đồng là số tiền à Lê Th Thùy D, sinh năm 1975, trú tại thành phố H, cho N mượn để N cho T mượn lại). Việc vay mượn tiền à D cũng chứng kiến và Nguyễn Nhật C ký với tư cách ảo lãnh. T và N có lập 02 hợp đồng, một là hợp đồng mượn tiền giữa T và N và hai là hợp đồng mua án chuyển nhượng quyền sử dụng đối với 02 lô đất A4 và A23 trong trường hợp T không có khả năng trả nợ thì sẽ án thanh toán nợ.
Ngày 18/11/2016, T đưa cho N 02 giấy hẹn nội dung đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H để lấy chứng nhận quyền sử dụng lô A23 và lô A4 đứng tên Đặng Văn T. Ngày 24/11/2016, vì C chưa có tiền trả nên T lấy giấy hẹn đến Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô A4 và A23 mang tên Đặng Văn T rồi chuyển lại cho N giữ để làm tin. Tuy nhiên, đến hẹn trả nợ vì không có tiền trả cho N nên T thỏa thuận với N án lô đất A23, N đồng ý, T án lô A23 và trả cho N số tiền là 200.000.000 đồng.
Quá hẹn trả nợ số tiền còn lại, không có tiền trả N để N trả lại cho à D, nên N đề ngh T chuyển nhượng lại lô đất A4 Khu quy hoạch B cho à D với giá tr là 1.200.000.000 đồng để cấn nợ. (riêng 100.000.000 đồng còn lại thì đã được ông Phan Trung ( ố của C) trả thay vào ngày 14/12/2016).
Do không có tiền trả nợ cho N, lúc này T nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt tài sản của à H nên không thực hiện sang tên thửa đất A4 qua tên con gái à H như thỏa thuận, mặc dù đã nhận đủ tiền nộp tiền đất ra thẻ từ à H. Nên T đồng ý với đề ngh của N án lô A4 lại cho vợ chồng ông T, à D để cấn nợ. Ngày 03/3/2017, T cùng vợ chồng ông Tống Phước T, à Lê Th Thùy D và N đến Ủy an nhân dân phường T ký chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất A4 khu quy hoạch B mang tên Đặng Văn T cho vợ chồng ông T, à D với giá tr trên hợp đồng là 550.000.000 đồng. Sau đó, N, T và D gặp nhau tại quán c m Âm Phủ, đ a chỉ số 51 Nguyễn Thái Học, thành phố H, tại đây T viết giấy chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất A4 cho vợ chồng ch D với giá tr là 1.200.000.000 đồng và cả a thống nhất không ai nợ ai nữa.
Sau đó à H iết T đã án lô đất A4 trên cho người khác thì nhiều lần tìm và gọi điện liên lạc nhằm yêu cầu T hủy hợp đồng mua án đó và thực hiện việc chuyển nhượng sang tên sử dụng lô đất A4 cho con gái à như đã thỏa thuận. T vì đã đem án cấn nợ lô đất trên cho người khác, không có tiền để trả lại cho à H, nên cố tình lẫn tránh, cắt liên lạc rồi ỏ trốn khỏi đ a phư ng vào tỉnh Lâm Đồng từ tháng 05/2017 cho đến khi C quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ắt giữ.
* Đồ vật, tài liệu C quan điều tra thu giữ gồm:
1. 01 (một) giấy thỏa thuận ghi ngày 21/11/2016 của Đặng Văn T ( ản gốc).
2. 01 (một) giấy nhận tiền mang tên Đặng Văn T ( ản gốc).
3. 01 (một) hợp đồng mua án chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mang tên Đặng Văn T và Hoàng Trọng N ( ản gốc).
4. 01 (một) văn ản cung cấp tài liệu chứng cứ do ch H ký tên.
5. 04 ( ốn) ản tin nhắn điện thoại đã in ra giấy, có chữ ký của ch H, đã đóng dấu giáp lai của CQCSĐT CATP H của ốn ản này với “Văn ản cung cấp tài liệu chứng cứ”, phần trên có chữ “Thong Bao Hiem”.
6. 01 (một) giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 3/3/2017 mang tên Đặng Văn T ( ản gốc).
7. 01 (một) giấy mượn tiền đề ngày 16/11/2016 giữa Hoàng Trọng N và Đặng Văn T có chữ viết chữ ký mang tên Đặng Văn T, Hoàng Trọng N và Lê Th Thùy D ( ản gốc).
8. 01 (một) giấy nhận tiền đề ngày 12/11/2016 số tiền 100.000.000 đồng có chữ viết, chữ ký mang tên Đặng Văn T ( ản gốc).
9. 01 (một) giấy nộp tiền vào tài khoản số 0043 đề ngày 16/11/2016 tại ngân hàng viettin ank số tiền 550.000.000 đồng ( ản gốc).
10. 01 (một) giấy nhận nợ số 02 của khách hàng Nguyễn Th H đề ngày 31/10/2016 và 01 (một) Lệnh chi đề ngày 31/10/2016 mang tên người nhận tiền Nguyễn Th H số tiền 400.000.000 đồng ( ản photo).
* Về kết quả giám đ nh:
+ Ngày 28/9/2020, C quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, có Quyết đ nh số 435 trưng cầu giám đ nh chữ viết, chữ ký trên các tài liệu: 01 giấy thỏa thuận” mang tên Đặng Văn T, (ký hiệu A1); 01 giấy nhận tiền” mang tên Đặng Văn T ghi nội dung “..., có nhận tiền của ch Nguyễn Th H...”, (ký hiệu A2).
Tại ản kết luận giám đ nh số 604/GĐ ngày 30/10/2020 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận: chữ viết mang tên “Đặng Văn T” trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1, A2 so với chữ viết đứng tên Đặng Văn T trên các tài liệu mẫu ký hiệu M1 đến M9 do cùng một người viết ra; Chữ ký so với các tài liệu mẫu ký hiệu M2, M3, M9 do cùng một người ký ra.
+ Ngày 15/12/2020, C quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, có Quyết đ nh số 230/VPCQCSĐT-QĐ trưng cầu giám đ nh chữ viết, chữ ký trên các tài liệu: 01 “GIẤY CHUYỂN NHƯỢNG QSD ĐẤT”, có chữ viết, chữ ký số mang tên Đặng Văn T, đề ngày 03/3/2017, (ký hiệu Al); 01 tài liệu có nội dung “12/11/2016 Tôi: Đặng Văn T có nhận của é Nu số tiền: 100.000.000 Một trăm triệu đồng chẵn... Đặng Văn T”, (ký hiệu A2).
Tại ản kết luận giám đ nh số 729/GĐ ngày 23/12/2020 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận: chữ viết mang tên Đặng Văn T trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1, A2 so với chữ viết đứng tên Đặng Văn T trên tài liệu mẫu ký hiệu M2 đến M9 do cùng một người viết ra.
* Về đ nh giá tài sản:
Ngày 12/01/2021, C quan CSĐT Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, có Yêu cầu đ nh giá tài sản số 04/VPCQCSĐT đối với tài sản là lô đất tại thửa đất số A4 khu quy hoạch B giai đoạn 3 (đợt 1), thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích 160,4m2 tại thời điểm ngày 03/3/2017. Ngày 03/2/2021, Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: lô đất có đặc điểm nêu trên tại thời điểm đ nh giá là tháng 3/2017 có giá tr thành tiền là 1.091.500.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mư i mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với lô đất A4 hiện nay, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố H, xác nhận: thay đổi chủ sử dụng đất cho ông, à Tống Phước T - Lê Th Thùy D (nguồn gốc: nhận chuyển nhượng của ông Đặng Văn T, theo hợp đồng chuyển nhượng được UBND phường T chứng thực ngày 03/3/2017); trên c sở đề ngh của C quan điều tra Công an thành phố H về việc ngưng sang tên đổi chủ giấy chứng nhận quyền sử dụng lô đất A4. nên Trung tâm Hành chính công thành phố H chưa trả kết quả cho ông, à Tống Phước T và Lê Th Thùy D.
* Về xử lý vật chứng: Các vật chứng tại mục (01) đến (10) chuyển theo hồ s vụ án.
Tiếp tục tạm giữ tại tài khoản C quan điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền 700.000.000 đồng do cáo tác động gia đình nộp khắc phục cho hại để đảm ảo quá trình giải quyết vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: B hại là à Nguyễn Th H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Tống Phước T, à Lê Th Thùy D đều yêu cầu được đứng tên quyền sử dụng đất đối với lô đất A4, Khu quy hoạch B giai đoạn 3 (đợt 1), phường T, thành phố H.
Quá trình điều tra cáo đã tác động gia đình nộp khắc phục số tiền 700.000.000 đồng tại tài khoản của C quan điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế cho hại.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Tuyên ố cáo Đặng Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: cáo Đặng Văn T 08 ( tám ) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày ắt thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn tạm giam trước đó từ ngày 09/4/2021 đến ngày 23/7/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015, uộc cáo Đặng Văn T tiếp tục ồi thường cho à Nguyễn Th H số tiền 508.790.000 đồng.
Số tiền 700.000.000 đồng mà cáo đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ được thi hành án trả cho à Nguyễn Th H khi ản án có hiệu lực.
Ngoài ra ản án s thẩm còn quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28/02//2022 (đ n trình ày chi tiết ngày 06/3/2022), hại Nguyễn Th H kháng cáo toàn ộ ản án, yêu cầu hủy án s thẩm để điều tra, xét xử lại vì vi phạm về thủ tục tố tụng và sai về phần nội dung ản án.
Tại phiên tòa:
- Người hại à Nguyễn Th H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho à Nguyễn Th H cho rằng án s thẩm đã bỏ lọt tội phạm và đề ngh tăng hình phạt đối với b cáo.
- Luật sư ào chữa cho b cáo Đặng Văn T đề ngh xem xét giảm hình phạt cho cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử ác kháng cáo của người hại; giữ nguyên ản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
. Xét kháng cáo của à Nguyễn Th H về phần thủ tục tố tụng, nhận thấy:
. Về nội dung Tòa án cấp s thẩm đưa vụ án ra xét xử vắng mặt à là vi phạm pháp luật tố tụng; xét thấy: Ngày 24/01/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã tống đạt cho à Nguyễn Th H Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 295/2022/HSST-QĐ, trong đó ấn đ nh ngày mở phiên tòa (ngày 17/02/2022). Ngày 10/02/2022, à H có đ n xin hoãn phiên tòa vì lý do à đang có đ n khiếu nại Cáo trạng số 41/CT-VKS-P2 ngày 08/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng chưa nhận được kết quả giải quyết khiếu nại của các cấp; xét thấy lý do của à H nêu ra là không chính đáng, ỡi lẽ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã trả lời khiếu nại của à từ tháng 10/2021 (Công văn số 1829/VKS-P2 ngày 22/10/2021). Do đó, việc Tòa án cấp s thẩm xét xử vắng mặt à là không vi phạm thủ tục tố tụng.
. Về nội dung C quan điều tra không thông áo kết quả đ nh giá lô đất A4 cho à là vi phạm pháp luật; Xét thấy: Theo tài liệu có trong hồ s vụ án thì không thể hiện việc C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế thông áo Kết luận đ nh giá tài sản số 425/KL-HĐĐ ngày 03/02/2021 cho à Nguyễn Th H, là không đúng quy đ nh tại khoản 2 Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên thiếu sót này không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để hủy án s thẩm để điều tra lại như yêu cầu kháng cáo của à.
. Về áp dụng iện pháp ngăn chặn đối với Đặng Văn T là vi phạm Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự: Xét thấy đây là quyết đ nh, hành vi tố tụng của C quan điều tra, được giải quyết theo trình tự khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét nội dung này.
. Xét kháng cáo của à Nguyễn Th H về nội dung ản án s thẩm giải quyết không đúng pháp luật; nhận thấy:
Ngày 17/10/2016, Đặng Văn T và à Nguyễn Th H cùng tham gia đấu giá quyền sử dụng đất ở thuộc Khu quy hoạch Bầu Vá giai đoạn 3 (đợt 1), phường T, thành phố H, tại đây à H và Đặng Văn T thỏa thuận nhờ T đứng ra đấu giá lô đất A4, à H sẽ trả hết các khoản chi phí để T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng lô đất trên, sau đó T chuyển nhượng lại cho con gái à H là ch Hoàng Nguyễn Trung T. T đã nhận đủ số tiền 1.208.790.000 đồng của à H và làm các thủ tục để được Ủy an nhân dân thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng lô đất A4 mang tên Đặng Văn T. T không chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất A4 nêu trên cho con gái à H như đã thỏa thuận trước đó, mà chuyển nhượng cho vợ chồng ông Tống Phước T và à Lê Th Thùy D với giá 1.200.000.000 đồng để trả các khoản nợ vay của cá nhân. Bà H nhiều lần liên lạc yêu cầu T trả lại tài sản nhưng T không trả lại mà ỏ trốn khỏi đ a phư ng.
Xét thấy, việc thỏa thuận nêu trên giữa à Nguyễn Th H và Đặng Văn T là thỏa thuận dân sự, à H và T chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy đ nh của Luật đất đai. Do đó, Tòa án cấp s thẩm tuyên ố cáo Đặng Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và uộc cáo T ồi thường cho à H số tiền chiếm đoạt 1.208.790.000 đồng là có căn cứ, đúng quy đ nh pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của à cho rằng Đặng Văn T chiếm đoạt tài sản của à là lô đất A4 nêu trên và yêu cầu cáo hoàn trả lô đất cho à; giữ nguyên ản án s thẩm.
Về yêu cầu của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho à Nguyễn Th H cho rằng án s thẩm đã ỏ lọt tội phạm và đề ngh tăng hình phạt đối với các cáo; xét thấy: Trong đ n kháng cáo ngày 28/02//2022 (đ n trình ày chi tiết ngày 06/3/2022) à Nguyễn Th H không nêu các nội dung trên; tuy nhiên xét thấy tại T áo việc kháng cáo số 779/2022/TB-TA ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xác đ nh à Nguyễn Th H kháng cáo toàn ộ ản án, nên hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu xem xét này của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho à Nguyễn Th H tại phiên tòa.
Đối với nội dung cho rằng Tòa án cấp cấp s thẩm đã ỏ lọt tội phạm, xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án được C quan điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế thu thập theo đúng trình tự, thủ tục của BLTTHS và kết quả tranh tụng tại phiên tòa s , phúc thẩm không có căn cứ xác đ nh tòa án cấp s thẩm ỏ lọt tội phạm, nên yêu cầu của Luật sư là không đủ c sở để xem xét.
Về yêu cầu tăng hình phạt đối với b cáo; xét thấy: B cáo truy tố, xét xử theo quy đ nh tại khoản 4 Điều 174 BLHS có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Tuy nhiên sau khi phạm tội cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; đã k p thời tác động gia đình khắc phục ồi thường được 700.000.000 đồng, nên án s thẩm xử phạt cáo T với mức án 08 năm tù là phù hợp, đúng quy đ nh pháp luật, không nhẹ. Do đó không có c sở để chấp nhận yêu cầu tăng hình phạt đối với cáo T.
. Về nội dung Luật sư ào chữa cho b cáo Đặng Văn T đề ngh xem xét giảm hình phạt cho cáo; xét thấy; Sau khi xét xử s thẩm, trong thời hạn luật đ nh cáo Đặng Văn T không có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nên nội dung đề ngh của Luật sư tại phiên tòa phúc thẩm, hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên như phân tích tại Mục [3.2] nêu trên, thì mức hình phạt đối với cáo T mà án s thẩm đã quyết đ nh là phù hợp, đúng pháp luật.
. Các quyết đ nh khác của Bản án hình sự s thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế không có kháng cáo, kháng ngh , Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
. Do kháng cáo có nội dung liên quan đến phần trách nhiện dân không được chấp nhận nên à H phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.
Từ nhận đ nh trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của à Nguyễn Th H; giữ nguyên ản án s thẩm.
Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Tuyên ố cáo Đặng Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: B cáo Đặng Văn T 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày ắt thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn tạm giam trước đó từ ngày 09/4/2021 đến ngày 23/7/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015, uộc cáo Đặng Văn T ồi thường cho à Nguyễn Th H số tiền 1.208.790.000 đồng; gia đình cáo T đã nộp số tiền 700.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, nên cáo còn phải tiếp tục ồi thường cho à H số tiền là 508.790.000 đồng.
Bà H được nhận số tiền 700.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế do gia đình cáo T nộp khắc phục hậu quả.
3. Các quyết đ nh khác về xử lý vật chứng, án phí s thẩm, quyền yêu cầu và trách nhiệm thi hành án được thi hành theo Bản án hình sự s thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
4. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Th H phải ch u 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Thừa Thiên Huế; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Thừa Thiên Huế; - C quan CSTHAHS - Công an tỉnh Thừa Thiên Huế; - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế; - Cục THADS tỉnh Thừa Thiên Huế; - B cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tào |