- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ NGỌC S - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc S phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 224/2019/HS-ST Ngày 19 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trai;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh– Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 207/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 214/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Đỗ Ngọc S, sinh năm 1988, tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cƣ trú: Ấp A, xã B, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Dũng (đã chết) và bà Dƣơng Thị Tuyết M, sinh năm 1964; bị cáo có vợ tên Lê Thị Kim M, sinh năm 1987 và 01 ngƣời con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 06/3/2019 bị Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội số 114/QĐ-XPVPHC, ngày 19 tháng 3 năm 2019 bị cáo đã nộp phạt xong; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 28 tháng 5 năm 2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2.2 Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Thạch Ngọc T, sinh năm 1989, nơi cƣ trú: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Phú Đ, sinh năm 1996, nơi cƣ trú: Xã T, huyện B, tỉnh Tiền Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Lƣu Chí Q, sinh năm 1970; nơi cƣ trú: Số S Lƣu Hữu P, phƣờng N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đắc T, sinh năm 1973; nơi cƣ trú: Ấp K, xã N, huyện Đ, tỉnh Cần Thơ. Vắng mặt.
- Ông Phạm Văn Ng, sinh năm 1963; nơi cƣ trú: 153A/3, khu phố F, phƣờng P, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/3/2019, tại cơ sở trọ số A, khu phố X, phƣờng P, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, lực lƣợng Công an phƣờng P phát hiện Đỗ Ngọc S, Lƣu Chí Q, Nguyễn Phú Đ, Nguyễn Đắc T, Thạch Ngọc T đang đánh bạc dƣới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền. Tang vật thu giữ: số tiền 100.000 đồng tại chiếu bạc; số tiền 1.960.000 đồng trong ngƣời các đối tƣợng; 01 bộ lắc bầu cua đã qua sử dụng gồm: 03 hột hình vuông có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà nai; 01 tờ giấy chia làm 06 ô có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà nai; 01 hộp trụ tròn; 01 dĩa inox đƣờng kính 30cm.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/3/2019, Đỗ Ngọc S đi làm về đến chỗ trọ tại địa chỉ số A, khu phố X, phƣờng P, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng thì nhìn thấy Q, Đ, T, T và đối tƣợng tên T chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dƣới hình thức lắc bầu cua do T làm cái. Lúc này, T đứng dậy ra về không tham gia đánh bạc và S vào làm cái. Cách thức đánh bạc: ngƣời chơi đặt tiền vào các hình in trên tờ giấy gồm các hình: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Nhà cái sẽ lắc 03 hột hình vuông có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai đƣợc đựng trong 01 hộp trụ tròn và 01 dĩa inox đƣờng kính 30cm. Sau khi lắc xong và mở hộp hình trụ ra nếu hình trên 03 hột hình vuông trùng với hình ngƣời chơi đặt tiền trên tờ giấy thì thắng. Hình thức ăn thua: Mỗi ván ngƣời chơi đặt từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng, ăn thua trực tiếp với nhà cái. Số tiền đánh bạc cụ thể của từng ngƣời nhƣ sau: Đỗ Ngọc S sử dụng 400.000 đồng để bánh bạc, thắng đƣợc 40.000 đồng. Thạch Ngọc T sử dụng 1.300.000 đồng để đánh bạc, thua 80.000 đồng. Lƣu Chí Q sử dụng 300.000 đồng đánh bạc, không thắng không thua. Nguyễn Đắc T sử dụng 120.000 đồng đánh bạc, đã thua hết. Nguyễn Phú Đ sử dụng 50.000 đồng đánh bạc, không thắng không thua, bị thu giữ 50.000 đồng tại chiếu bạc. Tổng số tiền đánh bạc là 2.060.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 224/CT-VKS-TA ngày 16/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Đỗ Ngọc S về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc S số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Đối với đối tƣợng tên T hiện chƣa xác định đƣợc, khi nào xác minh đƣợc sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: 01 bộ lắc bầu cua đã qua sử dụng gồm: 03 hột hình vuông có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 tờ giấy chia làm 06 ô có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 hộp trụ tròn; 01 dĩa inox đƣờng kính 30cm là công cụ phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy; số tiền Việt Nam 2.060.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Ngọc S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Ngày 24/3/2019, tại số 153/3, khu phố 2, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với Lƣu Chí Q, Nguyễn Phú Đ, Nguyễn Đắc T, Thạch Ngọc T, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 2.060.000 đồng. Lần phạm tội này bị cáo đang có 01 tiền sự, bị Công an T, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 114/QĐ-XPVPHC ngày 06/3/2019 về hành vi đánh bạc trái phép với mức phạt tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt ngày 19/3/2019, nay tiếp tục phạm tội nên hành vi của bị cáo Đỗ Ngọc S đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năn 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Đỗ Ngọc S về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năn 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhƣng vì đam mê cờ bạc, muốn có thu lợi từ việc đánh bạc, bị cáo là ngƣời làm cái khi đánh bạc. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đầy đủ vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Lƣu Chí Q, Nguyễn Phú Đ, Nguyễn Đắc T, Thạch Ngọc T thực hiện hành vi đánh bạc chƣa đủ định lƣợng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an phƣờng P, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q, Đ, T, T là đúng quy định pháp luật.
Đối với đối tƣợng tên T cùng với S, Q, Đ, T, T tham gia đánh bạc hiện chƣa xác định đƣợc lai lịch địa chỉ khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp:
Đối với 01 (một) bộ lắc bầu cua đã qua sử dụng gồm: 03 (ba) hột hình vuông có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) tờ giấy chia làm 06 ô có in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) hộp trụ tròn; 01 (một) dĩa inox đƣờng kính 30cm là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với số tiền Việt Nam 2.060.000 đồng bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 32; Điều 35; Khoản 1 Điều 321; Điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc S phạm tội Đánh bạc.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc S số tiền 30.000.000 đồng (ba mƣơi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc: số tiền 2.060.000 đồng (hai triệu không trăm sáu mƣơi nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ lắc bầu cua đã qua sử dụng gồm: 03 (ba) hột hình vuông có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) tờ giấy chia làm 06 ô có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 (một) hộp trụ tròn; 01 (một) dĩa inox đƣờng kính 30cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/8/2019 và Ủy nhiệm chi ngày 13/8/2019 giữa Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng - VKSND thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, VT. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huệ |