- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Mỹ V phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 224/2018/HS-ST Ngày: 17/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Mơi
2.Ông Nguyễn Trọng Quân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Huy
- Kiểm sát viên
Ngày 17/9/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 281/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Lê Mỹ V - Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1987 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Trung T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Mỹ K và bà Lê Thị B; vợ: chưa; tiền án: Ngày 13, 14 tháng 11 năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”(chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2017); tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2018, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9h ngày 23/5/2018, Lê Mỹ V một mình đi đến khu vực phía sau khách sạn L, phường Đ, thành phố T gặp và mua 04 gói ma túy đá của một nam thanh niên khoảng 25 tuổi không biết tên và địa chỉ với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy, Vỹ cầm 04 gói ma túy trên tay mang về sử dụng. Khi đi đến đoạn đường L, phường Đ, thành phố T thì bị đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T bắt quả tang vào hồi 9h 30’, cùng với tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 1042/MT-PC54 ngày 25/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,611g, loại: Methamphetamine.
Đối với người đàn ông, V khai đã bán ma túy cho V, nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ do đó không có căn cứ xác minh xử lý.
Tại bản cáo trạng số 190/CT-VKS-MT ngày 25/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố Lê Mỹ Vỹ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo là từ từ 27 đến 33 tháng tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS. Trước khi HĐXX vào nghị án bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 09h 30' ngày 23/5/2018 tại đoạn đường L, phường Đ, thành phố T, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T bắt quả tang Lê Mỹ V đang tàng trữ 04 gói ma túy có tổng khối lượng 1,611g, loại: Methamphetamine.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Lê Mỹ V có đủ các dấu hiệu cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội danh và khung hình phạt được quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.
Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bố bị cáo là thương binh hạng A loại 4/4 và được tặng thưởng huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Ma túy, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố T là vật cấm lưu hành, nên cần áp dụng khoản 1, điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu huỷ.
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Mỹ V phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Mỹ V 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạnh chấp hành hình phạt tù tính từ 23/5/2018.
Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Lê Văn Q, Lê Minh T, Vũ Huy B, Lại Thị Thanh L.
Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, theo biên bản giao nhận vật chứng số 180/THA ngày 30/7/2018 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSNDTPTH; - Công an TPTH; - TAND tỉnh Thanh Hóa - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Hào |