vanban.org

Bản án 223/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 30/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 1, Điều 256a; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 1, Điều 256a; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2026/HS-ST
Ngày: 30/3/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thùy;

2. Bà Nguyễn Thu Hường;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại Phòng xét xử trực tuyến - Toà án nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội, Toà án nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2026/QĐXXST-HS ngày 19/3/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1988

CCCD số: 00108800xxxx

Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Không.

Nơi thường trú: Tổ A phường Đ, thành phố Hà Nội;

Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Quốc tịch: Việt Nam,

Dân tộc: Kinh,

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trình độ học vấn: 12/12.

Họ tên bố: Nguyễn Văn B – Sinh năm 1966

Họ tên mẹ: Lê Tuyết H1 - Sinh năm 1963

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 29/10/2007, tại Bản án số: 418/2007/HSST, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Ngày 11/01/2008, tại Bản án số: 16/2008/HSPT, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội chấp nhận kháng cáo, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đối với tội danh trên. Ngày 31/3/2008, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. (đã xóa án tích).

- Ngày 28/10/2011, tại Bản án số 436/2011/HSST, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ra trại ngày 14/02/2013, nộp án phí ngày 28/10/2011. (đã xóa án tích)

- Ngày 31/3/2014, tại Bản án số 89/2014/HSST, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 08/10/2015, nộp án phí ngày 18/6/2014. (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt (khẩn cấp), tạm giữ từ ngày 20/12/2025. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an T1.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h45’ ngày 19/12/2025, tổ công tác Công an phường T, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn tại khu vực đường gom đại lộ T, phường T, thành phố Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn H đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra, H không xuất trình được giấy tờ. H khai vừa sử dụng ma túy heroin ngày 13/12/2025 và đang thực hiện biện pháp cai nghiện tự nguyện bằng cách uống Methadone tại Trạm y tế phường Định Công, Hà Nội. Tổ công tác đã lập biên bản, đưa H về trụ sở để làm việc. (BL06).

Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn H khai nhận: Bản thân nghiện ma túy từ 2011 đến 2022. Để cai nghiện, H đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Trạm y tế phường Đ bằng cách uống Methadone theo quy định và được cấp thẻ theo dõi mã số 000xxx mang tên Nguyễn Văn H. Hằng ngày H phải đến uống thuốc đúng khung giờ vào buổi sáng. Khoảng 10h 13/12/2025, sau khi đến Trạm y tế uống thuốc theo quy định, H đi lang thang tại khu vực phường Đ thì gặp T (là bạn xã hội, H không biết nhân thân lai lịch, cũng là đối tượng nghiện ma túy H2), tại đây, T cho H 01 gói heroin để sử dụng. H cầm số Heroin trên đến một góc khuất trên đường khu vực phường Đ để sử dụng thông qua hình thức hút rồi về nhà. Những ngày sau đó, H vẫn đến Trạm y tế phường để nhận và uống thuốc Methadone như thường lệ. Khoảng 21h ngày 19/12/2025, H đang đi trên khu vực đường gom Đại lộ T thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra như trên. (BL85-96).

Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm ma túy cho H, kết quả Nguyễn Văn H dương tính với ma túy Morphine (MOP), H3 (HER), C (COD). (BL8-9)

Kết luận giám định độc chất số 1209 ngày 21/12/2025 của Trung tâm pháp ý – Sở Y kết luận: Mẫu nước tiểu vụ Nguyễn Văn H giám định có tìm thấy chất ma túy là M. (BL13)

Tại biên bản làm việc ngày 21/12/2025 với Trung tâm P trao đổi về việc Khi đối tượng sử dụng Methadone thì có chuyển hóa thành Morphine thay thế trong cơ thể không và khi đối tượng sử dụng Heroine có chuyển hóa thành Morphine trong cơ thể hay không. Tổn tại trong bao nhiêu ngày. Trung tâm P trả lời: (BL15)

- Công thức cấu tạo của M1 và M khác nhau. Chất chuyển hóa của M1 là EDDP và EDMP, không phải là M. Do đó, khi đối tượng sử dụng Methadone thì không thể chuyển hóa thành Morphine trong cơ thể.

- Theo sách Độc chất học, nhà xuất bản y học (2024), chương 5. Các chất ma túy, trang 119 ghi “Ở môi trường nước heroine bị thủy phân dần thành monoacetyl morphine và morphine”.

Theo tài liệu D and poisons in Humans A handbook of Practical analysis, Osamu Suzuki and K, mục II.2.3 Morphine and its analogues, trang 196 thì Heroin chuyển hóa thành Morphine. Vậy đối tượng sử dụng Heroine thì có thể chuyển hóa thành Morphine trong cơ thể.

Theo D1, nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật (2023), mục Morphine trang 1148 có ghi “Khoảng 90% morphine toàn phần được đào thải trong 24h; trong nước tiểu vẫn còn vết morphine tới 48h hoặc lâu hơn”. Như vậy, morphine vẫn còn tồn tại trong nước tiểu sau 2 ngày (48h) hoặc lâu hơn.

Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Xác minh tại Trạm y tế phường Định Công xác định Nguyễn Văn H tham gia điều trị cai nghiện Heroine bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 06/11/2019 đến ngày 19/12/2025. Bệnh nhân được tiếp nhận theo đúng quy trình và có hồ sơ kèm theo. (BL18).

Đối với đối tượng T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 23A/CT-VKS ngày 10/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn H bị truy tố về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, khoản 1, Điều 256a của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, khoản 1, Điều 256a của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 256a; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 30 – 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Không

Về xử lý vật chứng: Không

Bị cáo không tham gia tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T1, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22h45’ ngày 19/12/2025, tại khu vực đường gom Đại lộ T, phường T, Hà Nội, Công an phường T phát hiện Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng ma túy Heroin vào ngày 13/12/2025 khi đang điều trị cai nghiện ma túy bằng thuốc Methadone tại Trạm Y tế phường Đ, thành phố Hà Nội.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian đang được điều trị cai nghiện. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét vai trò, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, 03 (ba) tiền án, từng có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên: Xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Không.

Về dân sự: Không.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Điểm a, khoản 1, Điều 256a; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2025.

Hình phạt bổ sung: Không

Về vật chứng: Không.

Về dân sự: Không.

Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ