vanban.org

Bản án 223/2024/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 16/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Bá G, Đinh Văn H, Phùng Văn N phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” .

Xử phạt Lưu Bá G 8 năm 06 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2024. Xử phạt Đinh Văn H 07 năm 06 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Bá G, Đinh Văn H, Phùng Văn N phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” .
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223 /2024 /HS-ST
Ngày 16/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Bà Dương Thị Diễm

2 – Ông Phạm Bá Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2024/TLHS-ST ngày 19/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 471/2024/QĐXXST-HS ngày 28/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Lưu Bá G – Sinh ngày 0x/0x/197x; HKTT và nơi ở : Số 3x đường C, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Bá N (đã chết) và bà Đỗ Thị K (đã chết). có vợ là Đỗ Thị T ( Đã ly hôn ) có 04 con: con lớn, con thứ 2 đã trưởng thành con thứ ba sinh năm 201x và con thứ tư sinh năm 201x. Theo lý lịch địa phương cung cấp và DCB số 336 ngày 02/8/2024 tại Công an quận B;

Tiền án, Tiền sự: Không

Nhân thân: 01 tiền án.

- Ngày 27/12/2000, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội Tổ chức đánh bạc.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/07/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số x – Công an thành phố Hà Nội; Số giam: 4264Ex/2x. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Đinh Văn H – Sinh ngày 2x/1x/199x; HKTT: Khu Đ, xã C, huyện C, tỉnh P; Nơi ở: Số 1xx đường T, phường T, quận B, Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn H, sinh năm 196x và bà Hoàng Thị A, sinh năm 197x. Có vợ Bàn Thị N ( đã ly hôn). Chưa có con. Theo lý lịch địa phương cung cấp và DCB số 337 ngày 02/8/2024 tại Công an quận B;

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/07/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số x – Công an thành phố Hà Nội; Số giam: 4265Ex/1x. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

3. Phùng Văn N – Sinh ngày 0x/0x/199x; HKTT: Xóm G, xã T, thành phố H, tỉnh H; Nơi ở: Số 1x D ngõ 1xx đường N, phường N, quận C, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn N ( đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 196x, chưa có vợ, con. Theo lý lịch địa phương cung cấp và DCB số 338 ngày 02/8/2024 tại Công an quận B;

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/07/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số x – Công an thành phố Hà Nội; Số giam: 4264Ex/x. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng :

1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 197x ; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện P, Hà Nội. ( Có mặt)

2. Nguyễn Xuân B, sinh năm 199x Địa chỉ: Số 3x đường H, Phường N, quận B, Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 27/07/2024, tại trước cổng đền Q, phường Q, quận B, Hà Nội, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B tiến hành kiểm tra hành chính Nguyễn Văn L (Sinh năm: 197x, Nơi ở: thôn T, xã Đ, huyện P) đang điều khiển xe máy Vinfast màu xanh, BKS 29K2-146.xx chở Phùng Văn N ngồi sau, phát hiện trong túi đeo chéo của N có 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, N khai nhận là ma túy đá mua của Đinh Văn H và đang mang đi để bán cho người mua ma túy.

- Thu giữ của Phùng Văn N:

+ 01 túi đeo chéo màu nâu bên trong có:

+ 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng;

+ 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng, số sim 097271xxxx;

+ Số tiền: 53.000 VNĐ.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải N, phát hiện bắt giữ Đinh Văn H đang đứng trước cửa nhà số 3x đường C, phường T, quận B, Hà Nội. Tại chỗ, H khai đang mang ma túy đi bán cho đối tượng tên V (chưa xác định nhân thân, lai lịch). Toàn bộ số ma túy H bán cho N và V đều có nguồn gốc mua của Lưu Bá G.

- Thu giữ của Đinh Văn H:

+ 01 gói giấy ăn màu trắng bên trong có 01 túi nilong màu trắng chứa tinh thể màu trắng;

+ 01 điện thoại Iphone XS màu đen, số sim 096894xxxx;

Khoảng 22 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra dẫn giải Hưng tới nhà Lưu Bá G tại số 3x đường C, phường T, quận B, Hà Nội, tiến hành khám xét khẩn cấp, thu giữ tại nhà của Lưu Bá G:

+ 01 hộp sắt màu xanh bên trong có: 04 túi nilong màu trắng kích thước 2x2 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilong màu trắng kích thước 3x3 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilong màu trắng kích thước 8x13 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng;01 túi nilong màu trắng bên trong chứa 26 viên nén màu hồng;

+ 01 cóong thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại LG màu trắng, số sim 098313xxxx

+ Số tiền: 1.323.000 đồng.

Kết luận giám định số 5590/KLGĐ – PC09 ngày 06/08/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong (thu giữ của N) là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,458 gam”.

Kết luận giám định số 5591/KLGĐ – PC09 ngày 06/08/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“Vật chứng thu giữ của Đinh Văn H gồm: Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong đều là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,377 gam.

- Vật chứng thu giữ của G gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 06 túi nilong đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 7,420 gam. 26 viên nén màu hồng là ma túy loại methamphetamine, khối lượng: 2,646 gam. 01 cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.”

Tại Cơ quan điều tra, Phùng Văn N, Đinh Văn H và Lưu Bá G khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 27/07/2024, một người sử dụng tài khoản facebook “T Nguyen” nhắn tin cho Phùng Văn N rủ cùng sử dụng ma túy “đá” nhưng N từ chối, người đó liền bảo N mua hộ 1.000.000 đồng ma túy “đá” cho anh ta và trả công 100.000 đồng, N đồng ý. Sau đó, N sử dụng số điện thoại 097271xxxx gọi tới số điện thoại 096894xxxx của Đinh Văn H để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy “đá”, H đồng ý. Khoảng 17h30 cùng ngày, N gặp “T Nguyen” tại số x đường T và nhận 1.100.000 đồng như thỏa thuận. Nhận tiền xong, N bắt xe ôm tới số 1xx đường T để gặp H. Tại đây, H bán cho N 01 túi nilong chứa ma túy “đá” với giá 1.000.000đồng, N cất ma túy vào trong túi đeo chéo trước ngực rồi đi xe ôm về số x đường T. Khi N đến trước cổng đền Q, phường Q, quận B thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Đinh Văn H là nhân viên quán bia có địa chỉ tại 1xx đường T, phường T, quận B, Hà Nội. H thường mua ma túy của Lưu Bá G để sử dụng và có bán ma túy để kiếm lời. Quá trình điều tra xác định H đã 03 lần bán ma túy cho Phùng Văn N và đối tượng tên H (chưa xác định nhân thân, lai lịch) như sau:

Tối ngày 23/7/2024, N nhắn tin cho H hỏi mua 700.000 đồng tiền ma túy “đá”, H đồng ý và hẹn N đến 1xx đường T, phường T, quận B, Hà Nội để giao dịch. Một lúc sau, N đến điểm hẹn và đưa cho H số tiền 700.000 đồng, H bảo N đứng đợi và điều khiển xe máy đến khu vực đường P, quận B, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy “đá” với giá 500.000 đồng. Mua xong, H mang ma túy quay về đưa cho N.

Đến khoảng 17 giờ ngày 27/07/2024, khi H đang làm việc tại quán bia số 1xx đường T thì nhận được cuộc gọi của N để hỏi mua ma túy của H, H đồng ý và hẹn giao dịch tại 1xx đường T. Sau đó H liên lạc với Lưu Bá G để mua ma túy về bán lại cho N. H đã nhờ anh Nguyễn Văn T (Sinh năm: 196x, Nơi ở: 1xx đường T,quận B, Hà Nội, là chủ quán bia nơi H đang làm việc) chuyển 1.000.000 đồng tới tài khoản ngân hàng của G (bao gồm 700.000 đồng tiền mua ma túy và 300.000 đồng tiền vay nợ cá nhân). Một lúc sau, G tới đưa ma túy cho H, H nhận túi ma túy từ G rồi cất vào túi quần trước bên trái để chờ bán cho N. Sau đó, khi N đến 1xx đường T gặp H, H đã bán túi ma túy trên cho N với giá 1.000.000 đồng.

Đến khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày, một người tên V (chưa xác định nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 091267xxxx (H lưu danh bạ là “V phố K”) gọi cho H hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy “đá”, H đồng ý và hẹn giao dịch tại 158 đường T. H tiếp tục liên lạc với Lưu Bá G để mua 700.000 đồng ma túy “đá”, G đồng ý. Một lúc sau, V đến gặp và đưa cho H 1.000.000 đồng, H nhờ V chở đến ngã ba đường C, phố T rồi đi bộ vào nhà của G tại ngõ 3x đường C và mua của G 700.000 đồng tiền ma túy “đá”. Mua xong, H đi bộ quay lại chỗ “V phố K” đang đợi. Khi H đến trước cửa số 3x đường C thì bị phát hiện bắt quả tang.

Ngoài lần bán ma túy trên, Đinh Văn H khai còn bán ma túy cho H vào ngày 20/07/2024 nhưng không nhớ thời gian, địa điểm, khối lượng ma túy cụ thể. Ngoài lời khai của H không còn tài liệu nào khác thể hiện lần bán ma túy này, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với hành vi mua bán trái phép ma túy của Lưu Bá G, do không có công việc ổn định nên G nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời. Khoảng 22 giờ ngảy 26/07/2024, Lưu Bá G đi bộ một mình lên phố H, phường P, quận B, Hà Nội mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilong chứa ma túy đá với giá 5.000.000 đồng và 01 túi nilong chứa hồng phiến với giá 2.600.000 đồng mục đích để bán lại kiếm lời. Sau khi mua xong, G cầm số ma túy trên về nhà G tại 3x đường C và cất tại gác xép. Ngày 27/07/2027, G chia số ma túy đã mua ngày 26/7/2024 thành 08 túi nilong gồm: 06 túi nilong nhỏ kích thước 2x2 cm, G dự định bán với giá 700.000 đồng/túi; 01 túi nilong kích thước 3x3 cm, G dự định bán với giá 1.000.000 đồng; 01 túi nilong kích thước 8x13 cm chứa số ma túy còn lại G để nguyên, mục đích để chia và bán sau.

Quá trình điều tra xác định G đã 02 lần bán ma túy cho Đinh Văn H như sau:

Chiều ngày 27/07/2024, G đang ở nhà thì H liên lạc G qua ứng dụng zalo hỏi mua 01 gói ma túy với giá 700.000 đồng, G đồng ý và bảo H chuyển tiền trước cho G. Sau khi H chuyển vào tài khoản ngân hàng của G số tiền 1.000.000 đồng (bao gồm 700.000 đồng tiền mua ma túy và 300.000 đồng tiền vay nợ cá nhân), G cầm 01 túi nilon kích thước 2x2cm mang tới quán bia 1xx đường T đưa trực tiếp cho H rồi đi về nhà.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H sử dụng số điện thoại 096894xxxx gọi tới số điện thoại 098313xxxx của G hỏi mua 700.000 đồng ma túy “đá”, G đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà G ở 3x đường C, phố T, quận B, Hà Nội. Một lúc sau, H tới nhà đưa cho G 1.000.000 đồng, G đưa lại cho H 01 bọc giấy ăn bên trong có 01 túi nilong kích thước 2x2 cm chứa ma túy “đá” cho H và bảo H lát quay lại lấy 300.000 đồng tiền thừa (do G không có tiền đổi), H cầm lấy ma túy rồi đi. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, G bị lực lượng chức năng mời về trụ sở để làm rõ về hành vi bán trái phép chất ma túy.

Lời khai của Phùng Văn N, Đinh Văn H, Lưu Bá G phù hợp với nhau, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp lời khai người làm chứng, người liên quan, kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của các đối tượng, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường, kết quả giám định chất ma tuý và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với “V phố K”: Qua xác minh chủ thuê bao 091267xxxx mà H sử dụng để liên lạc mua ma túy là Lò Thị K (Sinh năm: 198x, Nơi ở: huyện S, thành phố L, tỉnh L). Tại Cơ quan điều tra, chị K khai không sử dụng số điện thoại trên và không quen biết ai tên H. Cơ quan điều tra đã dẫn giải Đinh Văn H đến vị trí gặp V, qua rà soát không xác định được đối tượng tên V mua ma túy của H ngày 27/7/2024, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh tiếp.

Qua xác minh chủ thuê bao 097271xxxx mà N sử dụng để liên lạc mua, bán ma túy là Đào Thị T (Sinh năm: 195x, Nơi ở: Tổ 1x phường C, quận N, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, chị T khai không sử dụng số điện thoại trên và không quen biết ai tên Đinh Văn H.

Cơ quan điều tra đã dẫn giải Lưu Bá G đến vị trí mua ma túy ngày 26/7/2024 và dẫn giải H đến vị trí mua ma túy ngày 23/07/2024, qua rà soát không xác định được các đối tượng bán ma tuý cho G, H.

Đối với người có tài khoản facebook “T Nguyen” mua ma túy của N vào ngày 27/07/2024: Do không có thông tin cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh.

Tại bản cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo Lưu Bá G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b, i khoản 2, Điều 251 BLHS.

Bị cáo Đinh Văn H vê tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b khoản 2, Điều 251 BLHS.

Bị cáo Phùng Văn N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại khoản 1, Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng điểm b, i khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 38 ; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt Lưu Bá G từ 8 năm 6 tháng tù đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/07/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt Đinh Văn H từ 7 năm tù đến 7 năm 6 tháng tù về tội

“ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/07/2024.

Áp dụng khoản 1, Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt Phùng Văn N từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/07/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

-Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy “ Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong (thu giữ của N) là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,458 gam”.

Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong (Thu giữ của H)là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,377 gam.

Tinh thể màu trắng bên trong 06 túi nilong (thu giữ của G) là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 7,420 gam. 26 viên nén màu hồng là ma túy loại methamphetamine, khối lượng: 2,646 gam. 01 cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng, số sim 097271xxxx; và số tiền: 53.000 VNĐ của Phùng Văn N; 01 điện thoại Iphone XS màu đen, số sim 096894xxxx của Đinh Văn H; 01 điện thoại LG màu trắng, số sim 098313xxxx và số tiền: 1.323.000 đồng của Lưu Bá G.

Truy thu số tiền 47.000 đồng bị cáo Phùng Văn N; Truy thu số tiền 500.000 đồng của bị cáo Đinh Văn H; Truy thu số 77.000 đồng của bị cáo Lưu Bá G đã thu lời từ việc bán ma túy.

Tại phiên tòa các bị cáo Lưu Bá G, Đinh Văn H, Phùng Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với xã hội và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lưu Bá G, Đinh Văn H, Phùng Văn N không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi bị truy tố: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nôi dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt quả tang cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/07/2024, tại trước cổng đền Q, phường Q, quận B, Hà Nội, Phùng Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,458gam Methamphetamine mục đích để mang bán cho khách, đã bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B bắt quả tang cùng vật chứng.

Phùng Văn N khai nhận là mua ma túy của Đinh Văn H và đang mang đi để bán cho người mua ma túy.

Đinh Văn H khai nhận: vào ngày 27/07/2024, tại số 1xx đường T, phường T, quận B, Hà Nội, H đã 02 lần bán ma túy với tổng khối lượng 0,458 gam ma túy Methamphetamine cho Phùng Văn N và bán 0,377gam ma túy Methamphetamine cho đối tượng tên V (chưa rõ lai lịch), thu lời 300.000 đồng/lần. Trước đó, ngày 23/07/2024, tại số 1xx đường T, H đã bán 01 túi ma túy “đá” cho Phùng Văn N, thu lời 200.000 đồng. H khai mua số ma túy trên của Lưu Bá G trú tại số 3x đường C, phường T, quận B, Hà Nội.

Lưu Bá G khai nhận: trong ngày 27/07/2024, G đã 02 lần mang ma túy cho Đinh Văn H, một lần bán 0,458 gam Methamphetamine cho H tại số 1xx đường T, phường T, quận B, Hà Nội và một lần bán 0,377 gam ma túy Methamphetamin tại số 3x đường C, phường T, quận B, Hà Nội. Ngoài ra, G còn tàng trữ trái phép 10,066 gam ma túy Methamphetamine tại nhà số 3x đường C, mục đích để bán lại kiếm lời.

Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo Lưu Bá G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b, i khoản 2, Điều 251 BLHS.

Bị cáo Đinh Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b khoản 2, Điều 251 BLHS.

Bị cáo Phùng Văn N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại khoản 1, Điều 251 BLHS là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho các tệ nạn buôn bán ma túy là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Bá G có 01 tiền án đã được xóa về tội tổ chức đánh bạc, bị cáo Phùng Văn N, Đinh Văn H chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự hiện các bị cáo đang nghiện ma túy phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mặc dù biết rõ về tác hại của ma túy nhưng vì lợi ích của bản thân là kiếm lời bất chính từ việc mua bán ma túy đã vi phạm pháp luật nên cần phải xử các bị cáo mức hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo các bị cáo, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung và để các bị cáo cai nghiện được ma túy; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với tội phạm về ma túy theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính,các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử thấy các bị các là đối tượng nghiện hút không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

-Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy “ Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong (thu giữ của N) là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,458 gam”.

Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong ( Thu giữ của H) là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,377 gam.

- Vật chứng thu giữ của G gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 06 túi nilong (thu giữ của G) là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 7,420 gam. 26 viên nén màu hồng là ma túy loại methamphetamine, khối lượng: 2,646 gam. 01 cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.”

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng, số sim 097271xxxx; và số tiền: 53.000 VNĐ của Phùng Văn N; 01 điện thoại Iphone XS màu đen, số sim 096894xxxx của Đinh Văn H; 01 điện thoại LG màu trắng, số sim 098313xxxx và số tiền 1.323.000 đồng của Lưu Bá G.

Truy thu số tiền 47.000 đồng bị cáo Phùng Văn N; Truy thu số tiền 500.000 đồng của bị cáo Đinh Văn H; Truy thu số 77.000 đồng của bị cáo Lưu Bá G đã thu lời từ việc bán ma túy.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo : Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lưu Bá G, Đinh Văn H, Phùng Văn N phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” .

Căn cứ điểm b, i khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 38 ; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt Lưu Bá G 8 năm 06 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt Đinh Văn H 07 năm 06 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2024.

Căn cứ khoản 1, Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt Phùng Văn N 36 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Điều 106, Điều 299, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,miễn,giảm,thu,nộp,quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án.

-Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy “ Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong (thu giữ của N) là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,458 gam”.

Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong ( Thu giữ của H) là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,377 gam.

- Vật chứng thu giữ của G gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 06 túi nilong (thu giữ của G) là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 7,420 gam. 26 viên nén màu hồng là ma túy loại methamphetamine, khối lượng: 2,646 gam. 01 cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.”

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng, số sim 097271xxxx; và số tiền: 53.000 VNĐ của Phùng Văn N; 01 điện thoại Iphone XS màu đen, số sim 096894xxxx của Đinh Văn H; 01 điện thoại LG màu trắng, số sim 098313xxxx và số tiền: 1.323.000 đồng của Lưu Bá G.

Truy thu số tiền 47.000 đồng của bị cáo Phùng Văn N; Truy thu số tiền 500.000 đồng của bị cáo Đinh Văn H; Truy thu số 77.000 đồng của bị cáo Lưu Bá G đã thu lời từ việc bán ma túy.

Toàn bộ vật chứng trên có tình trạng như biên bản bàn giao vật chứng số 38 ngày 28/11/2024 của cơ quan điều tra với Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình và theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi Cục Thi hành án quận Ba Đình ngày 27/11/2024 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.

Bị cáo Bá G, bị cáo Đinh Văn H, Bị cáo Phùng Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ