- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Trung K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 223/2020/HS-ST Ngày 18-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Thế;
2. Ông Phạm Chiến Thắng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 215/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2020/QĐXX-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Đỗ Trung K, sinh năm 1986 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Số 44, đường Nguyễn Tr, khu phố Th Nh 1, phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Hữu Th, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị Kh, sinh năm 1958; bị cáo có 01 chị ruột, sinh năm 1984; bị cáo có vợ tên là Huỳnh Thị K, sinh năm 1993, có 01 con ruột, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 03/12/2013 bị Chủ tịch UBND thị xã D A (nay là thành phố D A), tỉnh Bình Dương ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 7969/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 06/12/2015; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2020 cho đến nay; có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Ông Đặng Qu, sinh năm 1955; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Đỗ Trung K là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 13 tháng 3 năm 2020, Đỗ Trung K do có nhu cầu sử dụng ma túy nên K đón xe Grap Bike đến khu vực cầu vượt S Th thuộc địa bàn phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương gặp và mua ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 300.000 đồng được bảo quản trong 01 gói nilon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng, sau khi mua được ma túy, K cất giấu vào túi quần trước bên phải rồi đi về nhà tại địa chỉ số 44 đường Nguyễn Tr, khu phố Th Nh 1, phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát kinh tế ma túy phối hợp Công an phường D A mời Kiên lên trụ sở Công an phường D A để làm việc. Quá trình làm việc phát hiện K có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của Kiên có 01 gói nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, K khai nhận là ma túy nên lực lượng Công an phường đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng.
Căn cứ Kết luận giám định số: 126/MT-PC09 ngày 18/3/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đi giám định có trọng lượng: 0,1649 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận giám định số: 126/MT-PC09 ngày 18/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Đối với đàn ông bán ma túy cho Đỗ Trung K tại khu vực cầu vượt S Th thuộc địa bàn phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 250/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đỗ Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Đỗ Trung K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong
chứa 0,1268 gam là ma túy, loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định là tang vật của vụ án đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo; người làm chứng; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/3/2020, tại Công an phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Đội Cảnh sát kinh tế ma túy phối hợp Công an phường D A kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của Đỗ Trung K có 01 gói nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, K khai nhận là ma túy nên lực lượng Công an phường đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.
Căn cứ Kết luận giám định số: 126/MT-PC09 ngày 18/3/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đi giám định có trọng lượng: 0,1649 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Đỗ Trung K tàng trữ ma túy có tổng khối lượng 0,1649 gam, loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số: 250/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Đỗ Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha là ông Đỗ Hữu Th là Thương binh và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo đã từng đưa vào cơ sở chữa bệnh vì sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác đồng thời các bị cáo là người nghiện ma túy, nhân thân xấu. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xét 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy có 0,1268 gam, loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với đàn ông bán ma túy cho Đỗ Trung K tại khu vực cầu vượt S Th thuộc địa bàn phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đỗ Trung K 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy có 0,1268 gam, loại Methamphetamine.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/5/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Đỗ Trung K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (03); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Người tham gia tố tụng (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01); - Lưu: VT, HSVA (02) THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Ngọc Công |