- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội:“Mua b¸n trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 223/2017/HSST Ngày: 15/ 11 / 2017 |
Toà án nhân dân quận Hà Đông
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiển Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn
: Bà Đỗ Thị Loan Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường – Cán bộ Tßa ¸n Đại diện VKSND quận Hà Đông: Bà Đào Hoàng Vân - KiÓm s¸t viªn sơ cấp
Ngày 15 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở HTX Văn Phú, phường Phú La, quận Hà Đông, Tp.Hà Nội, xÐt xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 215/2017/HSST, ngày 06 tháng 10 năm 2017, đối với bÞ c¸o:
LÊ VĂN C - SN 1987; HKTT : xóm H, xã T, thị xã H, tỉnh N; Tạm trú tại: Tổ TB, phường D, quận H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:12/12; Con ông: Lê Văn B, SN: 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, SN: 1945; Gia đình có 02 anh em bị cáo là thứ 2.
Tiền án tiền sự: chưa
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 23/5/2017 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Trần Ngọc A– SN 24/7/2000 (vắng mặt) HKTT: Khu 2 TT, xã L, huyện K, tỉnh P. Tạm trú: ngõ 3, huyện Đ, Tp.H.
Người đại diện hợp pháp cho Trần Ngọc A:
Ông Trần Văn M – SN 1970 (bố đẻ Trần Ngọc A vắng mặt)
HKTT: Khu 2 TT, xã L, huyện K, tỉnh P.
- Tạ Văn H – SN 1995 (vắng mặt) HKTT và trú tại : Tổ dân phố 4, phường T, quận N, Thành phố H.
- Nguyễn Trung Đ– SN 1996 (vắng mặt) HKTT và trú tại: Tổ dân phố H, phường D, quận H, thành phố H
NHẬN THẤY
Bị cáo Lê Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Lê Văn C là đối tượng nghiện ma túy, làm việc tại quán Karaoke Newstar tổ dân phố Trung Bình, phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội từ cuối năm 2016.Khoảng tháng 4/2017, khi C đang ở quán Karaoke Newstar thì có một nam thanh niên tên thường gọi là B (C chỉ biết mọi người hay gọi là B, ngoài ra không rõ tên thật và địa chỉ cụ thể) nói với C ở quán nếu có ai hỏi mua ma túy đá thì liên lạc với B, nếu nhiều thì B sẽ trả tiền hoa hồng nhiều cho C. Nghe vậy, C bảo B bán cho một túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. B đồng ý và đưa cho C 01 túi ma túy đá, C cầm và đưa lại cho B số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được túi ma túy từ B, C lấy ra sử dụng một ít, số còn lại C cất trong người mục đích nếu có ai hỏi mua sẽ bán lại để kiếm lời.
Khoảng 14 giờ ngày 23/5/2017, Trần Ngọc A đang ngồi tại nhà trọ của A Ánh ở ngõ 3, huyện Đ, Tp.H cùng với bạn là Tạ Văn H thì có Nguyễn Trung Đ đến chơi. Tại đây, Đ nhờ A mua hộ ma túy đá với giá 300.000 đồng, A đồng ý. Do điện thoại của A hết tiền nên A đã mượn điện thoại của H số thuê bao 0169.376.0778 và bấm gọi cho Lê Văn C số thuê bao 0989.563.739. Qua điện thoại, A nói với C: “anh để cho em cái ba trăm, em qua lấy luôn” (ý A hỏi mua ma túy đá của C với giá 300.000 đồng). C hỏi lại: “Ai đấy”. A trả lời: “em A đây, anh để cho em cái ba trăm”. Nghe vậy, C hiểu ý và đồng ý rồi hẹn A tại quán Karaoke Newstar. Sau đó, Đ đưa cho A 300.000 đồng và hẹn A là khi nào mua được ma túy đá thì mang ra khu vực đường Lê Trọng Tấn, phường Dương Nội, quận Hà Đông cho Đ; A đồng ý. Sau khi đợi lâu không thấy A đến nên C đã gọi điện thoại từ số của C là 0989.563.739 đến số của A là 0985.975.126. Qua điện thoại, C nói với A “sao lâu thế”, A trả lời “em qua đây”. Khoảng 5 phút sau, A đi đến quán karaoke Newstar. Tại đây, A đưa cho C 300.000 đồng, C lấy trong người ra 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng đưa cho A. A cầm túi ma túy mua được ở lòng bàn tay trái rồi đi ra chỗ hẹn gặp Đ ở khu vực đường Lê Trọng Tấn thuộc tổ dân phố Thắng Lợi, phường Dương Nội, quận Hà Đông. Khi A gặp Đ và chưa kịp đưa cho Đ túi ma túy thì bị tổ công tác của đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hà Đông phối hợp với Công an phường Dương Nội, quận Hà Đông phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì thư mép dán có chữ ký của Nguyễn Trung Đ, Trần Ngọc A (ký hiệu M1), 01 điện thoại di động Nokia vỏ màu đen số thuê bao: 0985.975.126 của Trần Ngọc A.
Đến 17 giờ 30 phút ngày 23/5/2017, cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông đã thi hành lệnh bắt và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Lê Văn C tại quán Karaoke Newstar, thuộc tổ dân phố Trung Bình, phường Dương Nội, quận Hà Đông. Tại đây, cơ quan Công an đã thu giữ trong túi quần đằng sau bên phải của Lê Văn C 01 ví da màu nâu đen bên trong có 300.000 đồng là tiền mà C vừa bán ma túy cho A, thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải của C 01 điện thoại Nokia có số thuê bao 0989.563.739; thu giữ tại túi quần đằng trước bên trái của C 01 chiếc cân tiểu ly; thu giữ tại giường tầng 2 đằng sau quầy bar của quán karaoke Newstar 07 túi nilon màu trắng bên trong đều dính các hạt tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư dán kín (ký hiệu M2) tại các mép dán có chữ ký của Lê Văn C. Toàn bộ vật chứng đã nêu được bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Ngày 23/5/2017, Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định 02 mẫu niêm phong thu giữ nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 3942/KLGĐ-PC54 ngày 04/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (ký hiệu M1) là ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,151 gam.
- 07 túi nilon màu trắng (ký hiệu M2) đều có dính ma túy loại Methamphetamine./.
Ngày 08/8/2017, cơ quan điều tra đã có công văn số 854 đề nghị Phòng PC54 – Công an thành phố Hà Nội xác định trọng lượng ma túy bám dính trong 07 túi nilon niêm phong (ký hiệu M2) khi khám xét.
Tại Công văn số 343 ngày 24/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội trả lời: “Tinh thể màu trắng dính bên trong 07 túi rất ít, không xác định được trọng lượng”.
Bản cáo trạng số 219/CT – VKS – HS ngày 05/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tè Lê Văn C về tội: “Mua b¸n trái phép chất ma túy” theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 194 Bé luËt h×nh sù. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị ¸p dông kho¶n 1 §iÒu 194; ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46 Bé luËt h×nh sù, xử phạt: Lê Văn C từ 27 ®Õn 30 th¸ng tï.
BÞ c¸o kh«ng cã nghÒ nghiÖp, kh«ng cã tµi s¶n nªn không áp dụng hình phát bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: tang vật vÒ ma tóy; chiếc cân tiểu ly; 01 chiếc ví da màu nâu đen
Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động của Lê Văn Chuyên phát mại sung quỹ nhà nước.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 300.000 đồng của Lê Văn C.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa, Lê Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.
Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu giữ tang vật, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 23/5/2017, tại quán Karaoke Newstar thuộc tổ dân phố Trung Bình, phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Lê Văn C thực hiện hành vi bán trái phép cho Trần Ngọc A 01 túi ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,151 gam giá 300.000 đồng để kiếm lời.
Hành vi trên của Lê Văn C là phạm tội: “Mua b¸n tr¸i phÐp chÊt ma tóy”. Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo với tội danh trên theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rất rõ tác hại của ma túy, song không chịu lao ®éng lµm ¨n ch©n chÝnh lao vµo con ® êng ph¹m téi. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi x· héi một thời gian nhằm giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người hữu ích và đáp ứng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét: T¹i c¬ quan điÒu tra còng nh tr íc phiªn tßa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân chưa có tiền án tiền sự nªn ® îc xem xÐt gi¶m nhÑ mét phÇn h×nh ph¹t cho bÞ c¸o.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tµi s¶n nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Xử lý tang vật: Tang vật là ma túy được hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc cân tiểu ly và 01 chiếc ví da màu nâu đen không còn giá trị sử dụng (bị cáo đề nghị tiêu hủy).
Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động của Lê Văn C phát mại sung quỹ nhà nước.
Tịch thu 300.000 đồng của Nguyễn Trung Đ sung quỹ nhà nước.
Về nguồn gốc số ma túy: Lê Văn C khai mua của người thanh niên không quen biết tên là B, tại quán karaoke Newstar thuộc tổ dân phố Trung Bình, phường Dương Nội, quận Hà Đông và nhặt được trong quá trình dọn dẹp ở quán Karaoke khi khách hát xong. Ngoài lời khai của C không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xử lý làm rõ.
- Đối với Nguyễn Trung Đ, ngày 23/5/2017 có nhờ A mua giúp ma túy đá để sử dụng trái phép và Trần Ngọc A thực hiện hành vi giúp Đ mua ma túy đá để sử dụng. Xét nhân thân các đối tượng này và trọng lượng ma túy thu giữ chưa đủ căn cứ xử lý hình sự, Công an quận Hà Đông đã tiến hành xử lý hành chính đối với Đ và A là có căn cứ.
- Đối với Tạ Văn H, là người cho A mượn điện thoại liên lạc với C để mua ma túy. Quá trình điều tra xác định, H không biết việc Đ và A liên hệ với C nhằm mục đích mua ma túy nên không có lỗi, cơ quan điều tra không tiến hành xử lý và trả lại cho H01 điện thoại di động Oppo vỏ màu đen có số thuê bao 0169.376.0778 là có căn cứ.
- Đối với 01 điện thoại di động Nokia vỏ màu đen số thuê bao 0985.975.126 thu giữ của Trần Ngọc A, do A không sử dụng trực tiếp vào việc liên hệ với Lê Văn C để mua ma túy nên cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho Ánh là có căn cứ.
Bị c¸o phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội:“Mua b¸n trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xö ph¹t Lê Văn C 26 tháng tù Thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy 23/5/20173.
3. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và ®iÓm a kho¶n 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu
đen, số thuê bao 0989563739
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 300.000 đồng
- Tịch thu tiêu hủy: + 01 chiếc cân tiểu ly; 01 ví da màu nâu đen
+ 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Trần Ngọc A, Nguyễn Trung Đ, bà Nguyễn Thị G – Chủ tịch hội phụ nữ phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và giám định viên Nguyễn Văn H;
+ 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Lê Văn C và giám định viên Nguyễn Văn H. (Tình trạng như biên bản bàn giao ngày 14 tháng 11 năm 2017 giữa Công an quận và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông)
4. Áp dông Điều 99, 231, 234 Bé luËt tè tông h×nh sù; Luật phí và lệ phí và Điều 23 NQ số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Tßa ¸n ngµy 30/12/2016.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho Trần Ngọc A vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND quận Hà Đông ; - VKSND quận Hà Đông; - THA quận Hà Đông; - Bị cáo ; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trọng Hiển |