- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 222/2025/HS-ST Ngày 08/12/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – chủ tọa pH tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt
- Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Bà Bùi Thị Hạnh
2 - Bà Nguyễn Thị Chung
- Thư ký pH tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Nội tham gia pH tòa: Bà Phan Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm tại Phòng xét xử trực tuyến – Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2025/TLHS-ST ngày 14/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 466/2025/QĐXXST-HS ngày 18/11/2025 đối với bị cáo:
Trương Công D – Sinh năm: 1986; HKTT: Số A, phường H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số B, khu đất giãn dân C, phường H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Công B, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị N (đã chết); Có vợ Đào Thị Thu H, sinh năm 1989; có 02 con con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015. Theo lý lịch địa phương cung cấp và DCB số 3168 ngày 12/8/2025 tại PC 11A – Công an thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/08/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 3826G2 buồng B1.
(Có mặt tại pH tòa)
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: chị Đào Thị Thu H, sinh năm 1989; HKTT: Số A, phường H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số B, khu đất giãn dân C, phường H, thành phố Hà Nội.
(Chị H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 0 giờ 20 phút ngày 06/8/2025, tại khu vực trước số B đường X, phường T, TP. Hà Nội, tổ công tác Công an phường T phát hiện Trương Công D có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, D đã tự nguyện lấy ở trong lòng bàn tay phải của mình ra 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. D tự khai nhận đồ vật giao nộp trên là ma tuý, D mua về để sử dụng nên cơ quan công an đã đưa D và tang vật về trụ sở để giải quyết.
Tang vật thu giữ của D gồm:
+ 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
+01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh, IMEI 1 869951050474xxx, IMEI 2 860951050474xxx, có lắp sim, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) xe moto nhãn hiệu Vinfast Evo màu đen, không gắn biển kiểm soát, đã qua sử dụng, số khung: RPXP1LHHVRE058xxx, số máy: VFHCEAD241214D0xxx.
Ngày 06/8/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của Trương Công D tại số B, khu đất giãn dân C, phường H, thành phố Hà Nội, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 4909/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,136 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 5449/KL-KTHS ngày 27/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Số máy, số khung xe là số nguyên thủy.
Kết quả điều tra xác định: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/8/2025, D đi lang thang tìm nơi mua ma túy “Đá”, khi đến khu vực gần sân bóng đá “Hà T 2”, phường H, TP. Hà Nội thì D gặp và mua 01 túi nilon chứa ma túy “Đá” với giá 500.000 đồng cùa một người phụ nữ không quen biết, D đã thanh toán bằng tiền mặt. Sau đó, D mang số ma túy “Đá” trên về nhà và đã sử dụng một ít ma túy bằng hình thức hút. Số ma túy “Đá” còn lại D để trong túi nilon và luôn mang theo người để tiếp tục sử dụng. Khoảng 0 giờ 20 phút ngày 06/8/2025, tại trước số B đường X, phường T, TP. Hà Nội, khi D đang cầm ma túy trên tay phải để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường T phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, Trương Công D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với điện thoại và xe máy bị tạm giữ, D khai là tài sản cá nhân D sử dụng và mua bằng tiền đi làm thuê.
Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Evo 200, màu đen, không đeo biển kiểm soát, số khung: RPXP1LHHV RE058xxx và số máy: VFHCEAD241214D0xxx là của Trương Công D mua ngày 09/01/2025 tại Công ty C (địa chỉ: số D, phường L, TP. Hà Nội). D đã đăng ký xe mang tên Trương Công D, tuy nH chưa lấy biển số và chưa lắp biển số vào xe, biển số xe là 29BE-13xxx. Cơ quan điều tra đã tra cứu xe không có trong hệ thống xe vật chứng. Do liên quan đến vụ án nên cơ quan chuyển Tòa án giải quyết theo thẩm quyền.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hà Nội để xử lý theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch của người phụ nữ bán ma túy cho Trương Công D nên Cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra.
Lời khai của Trương Công D phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của nhân chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định chất ma túy, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS – HS ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Nội truy tố bị cáo Trương Công D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
Tại pH tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2017,2024,2025; Xử phạt Trương Công D từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù giam về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp niêm phong dán kín tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra Công an phường T và chữ ký của bị cáo Trương Công D bên trong là khối lượng ma túy còn lại sau khi giám định.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh, IMEI 1 869951050474xxx, IMEI 2 860951050474xxx, có lắp sim, đã qua sử dụng.
- 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Evo 200, màu đen, không đeo biển kiểm soát, số khung: RPXP1LHHV RE058xxx và số máy: VFHCEAD241214D0xxx là của Trương Công D mua ngày 09/01/2025 tại Công ty C (địa chỉ: số 42 Cầu Bươu, phường Thanh Liệt, TP. Hà Nội). D đã đăng ký xe mang tên Trương Công D, tuy nH chưa lấy biển số và chưa lắp biển số vào xe, biển số xe là 29BE-13xxx.
Toàn bộ vật chứng trên có tình trạng như biên bản bàn giao vật chứng, tài sản số 58/KV1- 2025 ngày 18/11/2025 của cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội với Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hà Nội.
Tại pH tòa bị cáo Trương Công D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với xã hội và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại pH tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại pH tòa, bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi bị truy tố :
Tại pH tòa hôm nay bị cáo Trương Công D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt quả tang, phù hợp cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 0 giờ 20 phút ngày 06/8/2025, tại trước số B đường X, phường T, TP. Hà Nội, Trương Công D có hành vi tàng trữ trái phép 0,136 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2017,2024,2025 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Công D chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, hiện đang nghiện ma túy nên cần phải xử bị cáo mức hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung và để bị cáo cai nghiện được ma túy; trong quá trình điều tra và tại pH tòa đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025. Đối với tội phạm về ma túy theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử thấy bị cáo Trương Công D là đối tượng nghiện hút không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Tich thu tiêu hủy 01 (một) hộp niêm phong dán kín tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra Công an phường T và chữ ký của bị cáo Trương Công D bên trong là khối lượng ma túy còn lại sau khi giám định.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh, IMEI 1 869951050474xxx, IMEI 2 860951050474xxx, có lắp sim, đã qua sử dụng.
- 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Evo 200, màu đen, không đeo biển kiểm
soát,
số
khung:
RPXP1LHHV
RE058xxx
và
số
máy: VFHCEAD241214D0xxx là của Trương Công D mua ngày 09/01/2025 tại Công ty C (địa chỉ: số D, phường L, TP. Hà Nội). D đã đăng ký xe mang tên Trương Công D, tuy nH chưa lấy biển số và chưa lắp biển số vào xe, biển số xe là 29BE-13xxx. HĐXX xác định chiếc xe máy bị cáo mua trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, là phương tiện đi lại của cả gia đình nên cần thiết phải trả lại cho chị Đào Thị Thu H. Chị H đã đến làm việc tại Tòa án và không có ý kiến gì về việc trao trả lại chiếc xe máy Vinfast Evo 200, màu đen, không đeo biển kiểm soát, số khung: RPXP1LHHV RE058xxx và số máy: VFHCEAD241214D0xxx theo quy định pháp luật.
Toàn bộ vật chứng trên có tình trạng như biên bản bàn giao vật chứng, tài sản số 58/KV1- 2025 ngày 18/11/2025 của cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội với Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hà Nội.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trương Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
- Điều 106, Điều 299, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,miễn,giảm,thu,nộp,quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Bị cáo Trương Công D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù giam thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp niêm phong dán kín tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra Công an phường T và chữ ký của bị cáo Trương Công D bên trong là khối lượng ma túy còn lại sau khi giám định.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh, IMEI 1 869951050474xxx, IMEI 2 860951050474xxx, có lắp sim, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho chị Đào Thị Thu H 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Evo 200, màu đen, không đeo biển kiểm soát, số khung: RPXP1LHHV RE058xxx và số máy: VFHCEAD241214D0xxx.
Toàn bộ vật chứng trên có tình trạng như biên bản bàn giao vật chứng, tài sản số 58/KV1- 2025 ngày 18/11/2025 của cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội với Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hà Nội.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.``
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội. - VKSND khu vực 1- Hà Nội. - Công an thành phố Hà Nội. - Thi hành án khu vực 1- Hà Nội. - Bị cáo. - UBND phường Hà Đông. - Những người tham gia tố tụng. - Lưu HS. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa pH tòa Vũ Thị Nguyệt |