- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 222/2025/DS-ST Ngày: 24 - 4 - 2025 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh;
2. Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 962/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 177/2025/QĐST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1970;
Nơi đăng ký thường trú: Số I Tập Đoàn F, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số G Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1979;
Nơi đăng ký thường trú: Đường số E, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 04/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc H trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 có quen biết, là hàng xóm cũ với nhau nên bà H1 đã nhiều lần mượn tiền của ông, cụ thể như sau:
Ngày 26/02/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 mượn số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng.
Ngày 10/3/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 mượn số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
Tổng số tiền bà Nguyễn Thị Ngọc H1 đã mượn của ông là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng. Khi mượn tiền bà H1 đều có viết giấy mượn tiền và có ký tên xác nhận. Hai bên không thỏa thuận lãi suất và thời hạn trả nợ.
Sau đó, do cần tiền nên ông có yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H1 trả cho ông số tiền 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng nhưng bà H1 không thực hiện và viện nhiều lý do để kéo dài thời gian trả nợ. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H1 phải trả cho ông số tiền nợ là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại biên bản ghi nhận sự vắng mặt ngày 20/01/2025, ông H xác định số tiền ông cho bà H1 vay là tài sản cá nhân của ông, không liên quan đến ai khác.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc H1 có nghĩa vụ trả cho ông số tiền nợ là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc H1 vắng mặt tại phiên tòa.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:
Về tố tụng:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định; thời hạn gửi thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng quy định; thời hạn gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử; thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định; việc tham gia hỏi tại phiên tòa đúng quy định.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H, buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H1 có trách nhiệm trả cho ông số tiền đã vay là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo nội dung đơn khởi kiện nộp ngày 04/12/2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ tổng cộng là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại Đường số E, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng:
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Ngọc H1 theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Về hình thức:
Tại giấy mượn tiền ngày 26/02/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 xác nhận có mượn của ông Nguyễn Quốc H số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng và giấy mượn tiền ngày 10/3/2021, bà H1 xác nhận có mượn của ông H số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Như vậy, về mặt hình thức, giấy mượn tiền ngày 26/02/2021 và giấy mượn tiền ngày 10/3/2021 đã được lập thành văn bản, phù hợp với Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng vay tài sản không bắt buộc phải công chứng, chứng thực.
Về nội dung:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 04/12/2024 và tại phiên tòa, ông Nguyễn Quốc H yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ tổng cộng là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng theo giấy mượn tiền ngày 26/02/2021 và giấy mượn tiền ngày 10/3/2021, không yêu cầu tính lãi, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án để cung cấp lời khai, trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án là có cơ sở.
Tại giấy mượn tiền ngày 26/02/2021 và giấy mượn tiền ngày 10/3/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 xác nhận có mượn của ông Nguyễn Quốc H tổng số tiền là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng; hai bên không thỏa thuận lãi suất và thời hạn trả nợ. Đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại Khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ông H đã thực hiện nghĩa vụ thông báo đòi lại tài sản cho bà H1 theo thông báo đòi nợ ngày 12/11/2024 nhưng bà H1 vẫn không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nợ 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xét.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 117, Điều 119, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H.
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Quốc H số tiền nợ là 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng theo giấy mượn tiền ngày 26/02/2021 và giấy mượn tiền ngày 10/3/2021.
Thi hành ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H1 chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 phải chịu án phí là 4.250.000 (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
Hoàn lại cho ông Nguyễn Quốc H số tiền tạm ứng án phí là 2.125.000 (hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng ông H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0063168 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký, đóng dấu) Nguyễn Như Ngọc |