- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngô Duy Tân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1.
- Căn cứ chính? Điều 2 Luật Cư trú; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 222/2024/DS-PT Ngày: 22-3-2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Tài.
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Hoàng Hoa.
Bà Doãn Thị Kim Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lành, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Mai Thị Thanh Hòa – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 13 và 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 0 /2023/TLPT-DS ngày 2 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19 /2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 188 /2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 01 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ông Ngô Duy T, sinh năm 19 2 Địa ch : E đường D, khu phố T, phường B, thành phố D, t nh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Ngô Hải C, sinh năm 1981 Địa ch : Số A Hồ T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo ủy uyền - Văn bản ủy uyền ngày 19/ /2022 . C m t
B đơn: Ông Huỳnh Tấn Gia T1, sinh năm 19 9 Địa ch thường trú: Số E Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Thanh T2, sinh năm 1986 Địa ch : 1.28 khối E nhà ở xã H, phường A, uận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy uyền - Văn bản ủy uyền ngày 03/8/2023 . C m t
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị K, sinh năm 19 3 Địa ch : A Hồ T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người c uyền lợi, ngh a vụ liên uan: Bà Ngô Hải C, sinh năm 1981. Là đại diện theo ủy uyền - Văn bản ủy uyền ngày 22/12/2022 . C m t
Người kháng cáo: Ông Huỳnh Tấn Gia T1 – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn kh i ki n, trong quá trình gi i quy t vụ án và t i phiên tòa ơ thẩm, nguyên đơn ông Ngô Duy T có bà Ngô H i C là người đ i di n theo ủy quyền trình bày:
Do c mối uan hệ bạn b v i con ông Ngô Duy T nên cuối năm 2012, ông Huỳnh Tấn Gia T1 c đến g p ông T để hỏi mượn tiền cho việc làm ăn đang g p kh khăn, tin tưởng vào mối uan hệ của ông T1 v i gia đình, ngày 01/02/2013 ông T đã đồng ý cho ông T1 mượn số tiền là .000.000.000 đồng, giao h n 8 tháng sau s trả c giấy biên nhận đính k m . Sau đ ông T1 tiếp tục đề nghị được mượn nợ thêm 4 lần nữa cho các việc của cá nhân và làm ăn, tất cả đều c viết giấy biên nhận mượn tiền vào các ngày: Ngày 0 /01/2014 mượn 4. 00.000.000 đồng Ngày 10/03/201 mượn 4.000.000.000 đồng Ngày 31/12/2016 mượn 4. 00.000.000 đồng. Tổng số tiền ông T1 đã mượn của ông T là: 18.200.000.000 đồng. Sau lần mượn nợ cuối cùng, ông T1 c t đứt liên lạc. Gia đình ông T đã nhiều lần liên lạc để đề nghị trả tiền lại nhưng ông T1 cố ý tránh né, không hồi đáp. Đối v i số tiền nợ ngày 03/02/201 , mượn .000.000.000 đồng do ông T nhận thấy chưa cần thiết giải uyết trong vụ án này nên ông T rút yêu cầu đối v i số tiền này.
Ông Ngô Duy T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải uyết: Buộc ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải trả lại cho ông Ngô Duy T tổng số tiền đã mượn là 18.200.000.000 đồng cộng v i số tiền lãi chậm thanh toán theo lãi suất ngân hàng là 10% mỗi năm trên dư nợ gốc thực tế từ lần cuối cùng mượn nợ là năm 2016 đến ngày khởi kiện. Tổng số tiền lãi chậm thanh toán tạm tính là 10.920.000.000 đồng. Tổng cộng, số tiền ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải trả tính đến ngày khởi kiện là 29.120.000.000 đồng. Đồng thời yêu cầu bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi chậm trả cho đến khi thanh toán xong hết nợ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn v n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải uyết: Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải trả cho ông Ngô Duy T số tiền nợ gốc 18.200.000.000 đồng và tiền lãi suất tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 12 tháng 9 năm 2023 số tiền 1 .286.809.000 đồng. Tổng cộng là 33.486.809.000 đồng.
Trong quá trình gi i quy t vụ án t i cấp ơ thẩm, b đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1: Không c văn bản trình bày ý kiến về nội dung khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Thanh T2 là người đại diện theo ủy uyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử tạm đình ch vụ án để chờ kết uả giải uyết khiếu nại của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân Quận 4 để giải uyết vụ án do ông Huỳnh Tấn Gia T1 cư trú tại căn hộ B Chung cư S, C - C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Thông báo về kết uả giải uyết, hủy bỏ đăng ký cư trú ngày 20/10/2022, thời hạn tạm trú đến ngày 0 /6/2023. Do đ về phần nội dung giải uyết vụ án ông không c ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Th K có bà Ngô H i C là người đ i di n theo ủy quyền trình bày: Bà Kim thống n ý kiến v i nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 3 , điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 22 , Điều 2 1, Điều 2 3 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 Điều 11 , Điều 119, Điều 3 , Điều 38 , Điều 398, Điều 401, Điều 402 Điều 463 Điều 46 Điều 466 Điều 468 Điều 4 0 của Bộ luật Dân sự năm 201 Luật phí và lệ phí Tòa án năm 201 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 c trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Ngô Duy T số tiền nợ gốc 18.200.000.000 đồng và tiền lãi suất tính đến ngày 12 tháng 9 năm 2023 là 1 .286.809.000 đồng, tổng cộng là 33.486.809.000 đồng.
Kể từ ngày 13/9/2023 nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền gốc nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất uy định tại Điều 3 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 201 tương ứng v i thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 20/2022/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2022 về việc “Phong tỏa tài sản của người c ngh a vụ đối v i tài sản là 2. 00.000 cổ phiếu của D mã chứng khoán: DC4 do Công ty Cổ phần X HOSE Địa ch : Tòa nhà R, số A đường C, Phường H, thành phố V, t nh Bà Rịa, Vũng Tàu phát hành thuộc sở hữu của nhà đầu tư cá nhân ông Huỳnh Tấn Gia T1" và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 21/2022/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2022 về việc "Cấm xuất cảnh đối v i ông Huỳnh Tấn Gia T1, sinh năm 19 9 Số th căn cư c công dân: 08 0 900022 Cấp ngày 08/08/2018” để đảm bảo thi hành án đối v i bản án này.
Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 16/2022/QĐ-BPBĐ ngày 03/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về việc phong tỏa số tiền 00.000.000 đồng theo tài khoản số 0602933642 6 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh T6 – Phòng G Theo giấy xác nhận số dư ngày 02/11/2022 , Địa ch : Số I đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được giải tỏa ngay khi bản án c hiệu lực pháp luật.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: 141.846.809 đồng, bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải nộp. Ông Ngô Duy T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về uyền kháng cáo và uy định về thi hành án cho các bên đương sự.
Ngày 2 /9/2023, bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo b đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 có ông Lê Thanh T2 là người đ i di n theo ủy quyền trình bày t i đơn kháng cáo và t i phiên tòa:
1/. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong uá trình giải uyết vụ án. Cụ thể đã thụ lý vụ án sai thẩm uyền, ban hành các uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, uyết định đưa vụ án ra xét xử trái pháp luật xâm phạm uyền lợi ích hợp pháp của công dân.
Việc xác định “Địa ch nơi cư trú của người bị kiện” uy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 201 để xác định thẩm uyền giải uyết vụ án s theo hư ng d n tại Nghị uyết số 04/201 /NQ-HĐTP ngày 0 / /201 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, ông Ngô Duy T ghi địa ch của bị đơn là “4 N, Phường I, quận P, Tp ." và nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận. Ngày 31/ /2022, Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận đã ban hành Phiếu xác mình số 61 /TAPN yêu cầu Công an P, uận P xác minh tình trạng thường trú, cư trú của bị đơn tại địa ch : "4 N, Phường I, quận P, Tp . Hồ Chí Minh”. Kết uả xác minh của Công an P thể hiện nội dung: “Ông Huỳnh Tấn Gia T1, inh năm 1979 đã chuyển khẩu về ố E Đường ố C, tổ E, khu phố D, phường B, Quận B (nay là Tp .) ngày 09/3/2016".
Ngày 30/8/2022, Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận đã ban hành Phiếu xác minh số 3 3/TAPN yêu cầu Công an phường B, thành phố T để xác minh tình trạng cư trú của bị đơn tại địa ch : Số E Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường B, Thành phố T. Theo kết uả xác minh của Công an phường A c nội dung: “Ông Huỳnh Tấn Gia T1, SN 1979 có hộ khẩu thường trú t i ố E Đường ố C, tổ E, khu phố D, phường A, Tp ., Tp .. Ông T1 không có thực t cư trú t i đ a chỉ trên. Hi n nay, ông T1 đang cư ngụ t i Căn hộ S Royal A 23.18, đ a chỉ 3 B, Phường A, Quận D, Tp .".
Ngày 0 /9/2022, Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận đã ban hành Phiếu xác minh số 3 3/TAPN yêu cầu Công an P1, Quận D để xác minh tình trạng cư trú của bị đơn tại: Căn hộ S Royal A 23.18, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết uả xác minh của Công an P1 đã xác nhận: “T i đ a chỉ A, Chung cư S đ a chỉ 3 B, Phường A, Quận D, Tp . không có ai tên Huỳnh Tấn Gia T1, SN 1979 đăng ký thường trú, t m trú, lưu trú".
Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận đã ban hành Quyết định số 6 /2022/QĐ-ST ngày 16/9/2022 chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức là không đúng theo uy định tại Điều 4, , 6 Nghị uyết số 04/201 /NQ-HĐTP ngày 0 / /201 vì khi không xác định được nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận phải tiếp tục thụ lý giải uyết theo thẩm uyền theo địa ch tại đơn mà nguyên đơn đã ghi và các tài liệu là Giấy Biên nhận thể hiện địa ch 4 N, Phường I, uận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 19/10/2022, Thẩm phán Đỗ Thị Thu T3 lại ban hành Thông báo thụ lý vụ án số 876/TB-TLVA xác định địa ch của bị đơn là “ 4 Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh” là không đúng, vì theo trả lời xác minh của Công an phường A Bút lục 44 thì “có hộ khẩu thường trú t i ố E Đường ố C, tổ E, khu phố D, phường A, Tp ., Tp ." nhưng "không có thực t cư trú t i đ a chỉ trên". Nội dung xác minh tại Phiếu xác minh số 3 3/TAPN ngày 30/8/2022 BL.44 của Công an phường A, thành phố T xác định tình trạng cư trú của bị đơn là không đúng vì: Thực tế trư c đ bị đơn cư trú tại “Căn hộ 0906 Block R, Chung cư S, số I Đường N, Khu phố E, Phường B, uận B, Thành phố Hồ Chí Minh", sau đ bị đơn đã làm thủ tục đăng ký tạm trú theo Hồ sơ: G01.0 0.012.001.18102022.000448.TT vào ngày 18/10/2022 tại Công an P1, Quận D về nơi tạm trú m i là Căn hộ 23.18, chung cư S, 3 B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Thể hiện ở việc bị đơn đã thuê nhà, cư trú tại địa ch trên, sau đ tiến hành thủ tục đăng ký tạm trú, đến ngày 20/10/2022, bị đơn nhận được Thông báo số 00240 /TB ngày 20/10/2022 của Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh về kết uả giải uyết, hủy bỏ đăng ký cư trú.
Theo Nghị uyết 04 đã hư ng d n, nếu không xác định được địa ch của bị đơn cư trú của bị đơn hiện tại theo kết uả xác minh của Công an P1, Quận D và bị đơn không đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú tại địa ch A, Chung cư S địa ch 3 B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì thẩm uyền giải uyết vụ án v n là Tòa án nơi bị đơn cung cấp tại đơn khởi kiện là Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận vì các tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận đều thể hiện địa ch ghi trên các Giấy biên nhận mang tên Huỳnh Trần Gia T4 là địa ch "4 N, Phường I, uận P, Tp .”. Không c tài liệu chứng cứ nào thể hiện bị đơn cung cấp địa ch " 4 Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường A, thành phố T, Tp ." cho nguyên đơn. Kết uả xác minh của Công an P, uận P theo phiếu xác minh số 61 /TAPN ngày 31/ /2022 Bút lục 43 thể hiện nội dung: “Ông Huỳnh Tấn Gia T1, SN 1979 đã chuyển khẩu về ố E Đường ố C, tổ E, khu phố D, phường B, Quận B (nay là Tp .) ngày 9/3/2016”. Bị đơn đã cư trú tại địa ch 4 N, Phường I, uận P, Thành phố Hồ Chí Minh trư c ngày 09/3/2016 phù hợp v i địa ch mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận. Đúng ra, Thẩm phán T3 phải chuyển trả hồ sơ vụ án lại Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận để giải uyết theo thẩm uyền theo đúng Nghị uyết 04/201 /NQ-HĐTP đã hư ng d n. Còn nếu muốn giữ lại thụ lý giải uyết vụ án theo uyết định chuyển của Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận thì Thẩm phán phải tiến hành xác minh lại tình trạng cư trú của bị đơn tại Công an phường A, thành phố T. Tuy nhiên, Thẩm phán T3 đã thiếu trách nhiệm và cố tình thụ lý vụ án trái thẩm uyền để từ đ ban hành 02 uyết định số 20 và 21 ngày 03/11/2022 áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của bị đơn và cấm bị đơn xuất cảnh trái pháp luật mà không tống đạt đến địa ch bị đơn thực tế cư trú d n đến bị đơn không thể nhận được các thông báo vụ án, 02 uyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời để thực hiện uyền khiếu nại pháp luật đã uy định bị đơn được uyền trình bày ý kiến và khiếu nại.
2/. Thẩm phán T3 đã vi phạm thủ tục tố tụng dân sự trong uá trình giải uyết vụ án: Thụ lý vụ án không thuộc thẩm uyền, ban hành trái pháp luật các uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối v i bị đơn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uyền lợi ích hợp pháp của bị đơn. Hành vi tố tụng sai trái nêu trên của Thẩm phán T3 đã xâm phạm hoạt động tư pháp. Ngày 1 /8/2023, Thẩm phán T3 đã ban hành Quyết định 4309/2003/QĐXXST-DS đưa vụ án ra xét xử đã vi phạm uy định của pháp luật về tố tụng dân sự vì trong uá trình thực hiện thủ tục tổ tụng dân sự, Thẩm phán T3 đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không đúng uy định của pháp luật. Theo Thông báo số 8 6 do Thẩm phán T3 ký, vào lúc 9h30 ngày 15/6/2023 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không được thông báo ho c mời để tham dự. Trư c đ , bị đơn c nhận được Thông báo ngày 13/2/2023 về tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 14/3/2023. Sau đ bị đơn đã làm đơn đề nghị dừng phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 14/3/2023 nhưng không được Thẩm phán T3, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức trả lời. Từ đ đến nay, bị đơn không nhận được bất kỳ văn bản hay yêu cầu, đề nghị nào của Thẩm phán Thảo, của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức liên uan đến phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Thẩm phán T3 đã không tống đạt, tống đạt không đúng địa ch các tài liệu, chứng từ, văn bản của Tòa án làm cho bị đơn không biết được thông tin từ Tòa án để tham gia tố tụng. Thẩm phán T3, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã vi phạm thủ tục tố tụng dân sự, xâm phạm đến uyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
3/. Bị đơn đã nhiều lần làm đơn yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thẩm phán Đỗ Thị Thu T3 ban hành uyết định chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân Quận 4 vì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đang thụ lý vụ án không đúng uy định tại Điều 4, , 6 của Nghị uyết số 04/201 /NQ-HĐTP ngày 0 / /201 . Hiện nay bị đơn đang cư trú tại Căn hộ B, chung cư S, 34 - C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh Theo uy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 201 thì Tòa án nhân dân Quận 4 là Tòa án c thẩm uyền giải uyết vụ án này. Tuy nhiên, những yêu cầu của bị đơn đến nay v n chưa được giải uyết, cũng không c bất kỳ văn bản trả lời nào mà lại ban hành uyết định đưa vụ án ra xét xử. Trong Bản án số 3606/2023/DSST c ghi: “Ngày 12/01/2023 ông T1 c đơn giải trình về việc thay đổi nơi cư trú và nộp k m Thông báo số kết uả giải uyết, hủy bỏ đăng ký tạm trú ngày 20/10/2022 xác định nơi tạm trú là chung cư S, địa ch 3 B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn tạm trú đến ngày 0 /6/2023. Ngày 06/3/2023, Tòa án nhân dân thành phố thủ Đức đã xác minh lại tại địa ch này từ ngày 20/10/2022 nhưng hiện không thực tế cư trú tại địa ch trên. Từ tháng 3/2023 ông Huỳnh Tấn Gia T1 đã không còn cư trú tại địa ch này”. Đây là điều không đúng sự thật, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác minh lại. Bị đơn c đủ chứng cứ để chứng minh bị đơn cư trú thực tế tại địa ch trên đến hiện nay. Ông T1 đề nghị các cấp c thẩm uyền, Thẩm phán Thảo tạm đình ch xét xử vụ án nêu trên đê đảm bảo sự công bằng, uyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
4/. Ngày 01/3/2023, bị đơn đã làm đơn khiếu nại tố cáo gửi Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 27/3/2023, ông nhận được Quyết định số 10/QĐ-GQKN về việc giải uyết khiếu nại của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 0 /4/2023 không đồng tình v i kết uả giải uyết khiếu nại Quyết định số 10/QĐ-GQKN bị đơn tiếp tục làm đơn khiếu nại Quyết định số 10/QĐ-GQKN gửi Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận, thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo của ông T1 theo biên nhận số 9026 ngày /4/2023. Đến nay, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận đơn khiếu nại của bị đơn nhưng chưa giải giải uyết khiếu nại lần 2 theo uy định của pháp luật. Tuy nhiên, ngày 20/ /2023 Thẩm phán T3 đã ban hành Quyết định 4309/2023/QĐXXST-DS đưa vụ án ra xét xử vào ngày 1 /8/2023. Việc làm này của Thẩm phán T3 là trái pháp luật, xâm phạm đến uyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Ông T1 đề nghị các cấp c thẩm uyền, Thẩm phán T3 đình ch xét xử vụ án nêu trên đê đảm bảo sự công bằng, uyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
/. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 22/3/2024, bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 c người đại diện theo ủy uyền là ông Lê Thanh T2 cung cấp một số tài liệu chứng cứ là bản photo hợp đồng thuê căn hộ, phụ lục gia hạn hợp đồng thuê căn hộ, thông báo nộp phí uản lý căn hộ, đăng ký gửi giữ xe ô tô, chứng từ thanh toán phí đậu xe ô tô, chuyển tiền thuê nhà, tin nh n thanh toán tiền thuê nhà thành công, cư c internet, tin nh n trao đổi … để chứng minh ông T1 ở tại Căn hộ Sài Gòn R 23.18, địa ch 3 B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm ngày 06/6/2020 đến nay. Việc Tòa án nhân dân uận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải uyết vụ án là không đúng thẩm uyền.
Về nội dung vụ án, bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 do ông Lê Thanh T2 bổ sung kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm “buộc bị đơn c trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Ngô Duy T số tiền nợ gốc 18.200.000.000 đồng và tiền lãi suất tính đến ngày 12/9/2023 là 1 .286.809.000 đồng, tổng cộng là 33.486.809.000 đồng”. Bị đơn không đồng ý v i phán uyết của Cấp sơ thẩm vì không đúng sự thật, thiếu chính xác, thiếu khách uan, thiếu chứng cứ. Trong vụ án này, thực tế ông T1 c mượn và nhận tiền từ ông T 02 lần: Lần 1 vào ngày 01/02/2013 v i số tiền là .000.000.000 đồng và lần 2 vào ngày 10/3/201 v i số tiền 4.000.000.000 đồng. Tổng cộng bị đơn c mượn và nhận tiền thực tế từ ông T là 9.000.000.000 đồng không phải 18.200.000.000 đồng như án sơ thẩm đã tuyên. Thực tế ua sự uen biết và làm ăn v i bà Ngô Hải C và bà Lê Thị K nên ông T1 c mượn tiền ông Ngô Duy T. Cụ thể là ngày 01/02/2013 ông T1 c mượn và nhận tiền m t từ ông T v i số tiền là .000.000.000 đồng và hứa 08 tháng sau s trả. Đến thời hạn cam kết, ông T1 chưa trả được khoản tiền này. Nên ngày 07/01/2014, ông T đã ép ông T1 ký giấy biên nhận nhận mượn 4. 00.000.000 đồng, đây là khoản tiền lãi phải trả cho khoản vay ngày 01/02/2013 theo dạng vay n ng, n ng lãi. Do chưa c tiền để trả khoản vay ngày 01/02/2013, để giữ uy tín của bị đơn và mối uan hệ thân thiết v i bà C nên bị đơn đã buộc phải làm Giấy biên nhận ngày 0 /01/2014 nhận khoản nợ 4. 00.000.000 đồng phát sinh là lãi vay từ khoản nợ ngày 01/02/2013. Thực tế là ông T1 không nhận tiền từ ông T nên ông T1 đã không ghi “đã nhận đủ tiền" vào Giấy biên nhận ngày 0 /01/2014 như trong Giấy Biên nhận ngày 01/02/2013 và ông T đã đồng ý điều này. Do ông T1 v n chưa trả được khoản tiền mượn ngày 01/02/2013, vì nể tình ông T1 là bạn thân thiết của con gái mình nên ngày 10/3/201 , ông T tiếp tục cho bị đơn mượn số tiền 4.000.000.000 đồng, bị đơn đã nhận đủ tiền m t và ghi vào giấy, hứa đến ngày 30/9/201 s trả. Do kinh doanh không hiệu uả nên ông T1 cũng chưa c tiền để trả các khoản nợ cho ông T. Đến đầu năm 2016 không nh rõ ngày tháng năm , ông T lại b t ép bị đơn ghi Giấy biên nhận mượn số tiền 4. 00.000.000 đồng hứa đến ngày 31/12/2016 s trả. Đây là tiền lãi vay n ng của các khoản nợ trư c đ . Lần này, cũng vì uy tín của mình, ông T1 cũng buộc phải ghi Giấy biên nhận nhận khoản nợ, ông T1 không nhận tiền từ ông T nên trong Giấy biên nhận lần này ông T1 cũng không ghi “đã nhận đủ tiền" vào Giấy Biên nhận như trong giấy Biên nhận ngày 10/3/201 . Ông T1 ch đồng ý trả khoản nợ gốc và lãi phát sinh từ khoản nợ 9.000.000.000 đồng theo uy định của pháp luật. Các khoản tiền theo Giấy biên nhận 0 /1/2014 mượn 4. 00.000.000 đồng và Giấy biên nhận không ngày tháng mượn 4. 00.000.000 đồng là những khoản ông T1 bị ông T b t ép ghi nợ để trả lãi vay cho các khoản nợ ngày 01/02/2013 và ngày 10/3/201 theo kiểu vay “n ng”, lãi suất cao vì vậy ông T1 không mượn nợ những khoản tiền này. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tuyên buộc ông T1 trả cả gốc l n lãi trong cả 04 Giấy biên nhận v i tổng số tiền 33.486.809.000 đồng là không đúng thực tế và uy định của pháp luật, đã không bảo đảm tính khách uan, chính xác trong việc xem xét, đánh giá các chứng cứ trong các giấy biên nhận, đã thiếu tính khách uan, phiến diện, không đúng thực tế, gây bất lợi và thiệt hại cho bị đơn, xâm phạm uyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2023/DS- ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, hủy các uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật trên để đảm bảo uy định của pháp luật, bảo đảm uyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Nguyên đơn ông Ngô Duy T có bà Ngô H i C là người đ i di n theo ủy quyền trình bày:
Ông Huỳnh Tấn Gia T1 nêu lý do kháng cáo là “Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thẩm phán Đỗ Thị Thu T3 đã thụ lý vụ án sai thẩm uyền, ban hành các uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, uyết định đưa vụ án ra xét xử trái pháp luật xâm phạm uyền lợi ích hợp pháp của công dân”. Theo đ , ông Huỳnh Tấn Gia T1 lập luận rằng ông c hộ khẩu thường trú tại E Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa ch trên mà cư ngụ tại Căn hộ S 23.18, địa ch 3 B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thẩm uyền xét xử vụ án phải thuộc Tòa án nhân dân Quận 4. Theo đơn kháng cáo, ông T1 ch kháng cáo về thủ tục tố tụng và ch kháng cáo về thẩm uyền giải uyết của Tòa án theo lãnh thổ. Ông T1 không kháng cáo về nội dung giải uyết của Tòa án cấp sơ thẩm. Do đ , căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự 201 , Tòa án cấp phúc thẩm ch xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, uyết định của Tòa án cấp sơ thẩm c kháng cáo, kháng nghị ho c c liên uan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm ch xét nội dung kháng cáo của bị đơn về thẩm uyền giải uyết của Tòa án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Thanh T2 trình bày là ông Huỳnh Tấn Gia T1 ch vay của ông Ngô Duy T số tiền 9.000.000.000 đồng theo hai Giấy biên nhận ngày 01/02/2013 và ngày 10/3/201 , hai giấy còn lại là tiền lãi n ng là không đúng sự thật. Lời trình bày này mâu thu n v i lời khai cũng của chính ông Lê Thanh T2 tại phiên tòa sơ thẩm ngày 12/9/2023. Tại phiên tòa sơ thẩm này, ông Lê Thanh T2 thừa nhận bị đơn, ông T5 đã vay của ông Ngô Duy T số tiền 18.200.000.000 đồng. Nội dung các Giấy biên nhận đều thể hiện đây là những khoản tiền mượn không c lãi, nên bị đơn trình bày c việc ép buộc ký giấy nợ để trả tiền lãi vay “n ng” là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận lời trình bày này của bị đơn.
Diễn biến và lời khai mâu thu n của ông Huỳnh Tấn Gia T1 chứng minh ông ta ch đang cung cấp các thông tin giả về nơi cư trú nhằm làm nhiễu loạn, trốn tránh ngh a vụ trả nợ và gây kh khăn cho uá trình thụ lý, xét xử của các cấp Tòa án. Tại tài liệu chứng cứ là Báo cáo về ngày trở thành cổ đông l n, nhà đầu tư n m giữ từ % trở lên cổ phiếu đề ngày 0 /01/2022 do ông Huỳnh Tấn Gia T1 lập gửi cho Ủy ban chứng khoán nhà nư c thể hiện địa ch liên hệ của ông T1 tại thời điểm này là số 4 Đường số C, Khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý và xét xử vụ án là hoàn toàn đúng v i thẩm uyền. Bản án sơ thẩm cũng đã giải uyết c căn cứ và đúng pháp luật dựa trên những tài liệu, chứng cứ hợp pháp mà nguyên đơn đã xuất trình. Bị đơn không phản đối và cũng không đưa ra được bất kỳ căn cứ pháp lý và chứng cứ nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác đơn kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và buộc ông T1 s m thi hành án.
Đ i di n Vi n kiểm át nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý ki n:
Về hình thức:
Đơn kháng cáo của bị đơn nằm trong hạn luật định nên được chấp nhận hợp lệ. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong uá trình giải uyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trư c thời điểm nghị án đúng theo uy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối v i Cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý giải uyết là đúng thẩm uyền, việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không bị ảnh hưởng bởi việc khiếu nại của đương sự trong uá trình giải uyết vụ án.
Về nội dung:
Sau khi phân tích những tình tiết c liên uan đến vụ án, trên cơ sở Bộ luật Dân sự, xét thấy cấp sơ thẩm giải uyết vụ án phù hợp v i uy định của pháp luật, kháng cáo của nguyên đơn không c căn cứ, tuy nhiên do cấp sơ thẩm c thiếu s t khi không đình ch giải uyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Duy T về việc buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải trả số tiền mượn .000.000.000 đồng ngày 03/02/201 do nguyên đơn rút một phần yêu cầu. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, bổ sung nội dung đình ch giải uyết đối v i phần yêu cầu đã được nguyên đơn rút yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn nằm trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 2 3 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 nên được chấp nhận.
Cấp sơ thẩm xác định uan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn ông Ngô Duy T và bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng v i uy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Cấp sơ thẩm căn cứ việc bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 c hộ khẩu thường trú tại số E Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để thụ lý giải uyết vụ án theo uy định tại Điều 3 , điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 . Bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử giải uyết vụ kiện không đúng thẩm uyền.
Xét uá trình thụ lý giải uyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận thụ lý giải uyết vụ án dân sự số 373/2022/TLST-DS ngày 23/ /2022 trên cơ sở Đơn khởi kiện ngày 20/ /2022 của nguyên đơn ông Ngô Duy T. Ông T đã căn cứ các giấy biên nhận mượn tiền c ghi địa ch của ông Huỳnh Tấn Gia T1 tại số D N, Phường I, uận P, Thành phố Hồ Chí Minh để khởi kiện tại Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận. Quá trình thu thập chứng cứ Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận xác minh thông tin cư trú của ông Huỳnh Tấn Gia T1 tại địa ch này thì được biết ông T1 đã chuyển hộ khẩu về số E Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường A, Quận B, ngày 09/3/2016, theo kết uả xác minh của Công an phường A, thành phố T ông T1 c hộ khẩu tại địa ch trên không c thực tế cư trú và cho biết ông T1 đang cư trú tại căn hộ SaiGon Royal A23.18 địa ch 34 – C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết uả xác minh tại Công an P1, Quận D: Tại địa ch A23.18 số 34 – C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh không c ai tên Huỳnh Tấn Gia T1, sinh năm 19 9 đăng ký thường trú, tạm trú, cư trú, do đ Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức giải uyết vụ án theo thẩm uyền theo Quyết định chuyển vụ án số 6 /2022/QĐST-DS ngày 16/9/2022.
Ngày 19/10/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã thụ lý giải uyết vụ án theo Thông báo về việc thụ lý giải uyết vụ án số 8 6/TB-TLVA.
Ngày 01/3/2023, ông Huỳnh Tấn Gia T1 đã c đơn khiếu nại gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức trong đ c khiếu nại về việc thụ lý sai thẩm uyền. Khiếu nại của ông T1 không được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức chấp nhận theo Quyết định về việc giải uyết khiếu nại số 10/2023/QĐ-GQKN ngày 27/3/2023.
Ngày 06/4/2023, không đồng tình v i kết uả giải uyết khiếu nại Quyết định số 10/QĐ-GQKN về việc giải uyết khiếu nại của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, ông T1 tiếp tục làm đơn khiếu nại Quyết định này gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận, thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo của ông theo biên nhận số 9026 ngày 0 /4/2023.
Ngày 20/ /2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4309/2023/QĐXXST-DS, xét xử vụ án vào ngày 17/8/2023. Ngày 15/8/2023, ông T1 c Đơn đề nghị tạm đình ch xét xử vụ án dân sự sơ thẩm.
Ngày 1 /8/2023, do người đại diện theo ủy uyền của bị đơn v ng m t nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 2 8/2023/QĐST-DS, ấn định ngày xét xử lại là 14 giờ 00 phút ngày 12/9/2023.
Ngày 12/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử vụ án và đã tuyên án bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2023/DS-ST phiên tòa c m t người đại diện theo ủy uyền của bị đơn .
[1. ] Bị đơn cho rằng nơi cư trú của bị đơn là ở Căn hộ B Chung cư S, 34
- C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo thông báo về kết uả giải uyết, hủy bỏ đăng ký cư trú ngày 20/10/2022, thời hạn tạm trú ngày 0 /6/2023 nên theo uy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 201 thì Tòa án nhân dân Quận 4 là Tòa án c thẩm uyền giải uyết vụ án này. Việc cư trú của bị đơn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ bị đơn nộp tại Cấp sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm ngày 22/3/2024 thể hiện bị đơn đã ở tại Căn hộ Sài Gòn R 23.18, địa ch 3 B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm từ ngày 06/6/2020 đến nay.
Căn cứ uy định tại khoản 2, 8, 9 Điều 2 Luật Cư trú 2020: “2. Cư trú là vi c công dân sinh sống t i một đ a điểm thuộc đơn v hành chính cấp xã hoặc đơn v hành chính cấp huy n nơi không có đơn v hành chính cấp xã (sau đây gọi chung là đơn v hành chính cấp xã).; 8. Nơi thường trú là nơi công dân inh ống ổn đ nh, lâu dài và đã được đăng ký thường trú;9. Nơi t m trú là nơi công dân inh ống trong một kho ng thời gian nhất đ nh ngoài nơi thường trú và đã được đăng ký t m trú.”
[1. ] Đối v i ý kiến của nguyên đơn cho rằng bị đơn v n cư trú tại E Đường số C, Khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý giải uyết vụ án. Qua kiểm tra tài liệu chứng cứ là Báo cáo về ngày trở thành cổ đông l n, nhà đầu tư n m giữ từ % trở lên cổ phiếu đề ngày 0 /01/2022 do ông Huỳnh Tấn Gia T1 lập gửi cho Ủy ban chứng khoán nhà nư c được đăng tại địa ch “https://vietstock.vn/2022/01/dc4-bao-cao-ve-ngay-tro-thanh-co-dong-lon-huynh-tan”, Hội đồng xét xử nhận thấy chứng cứ này được công khai và là chứng cứ c thật. Nội dung chứng cứ thể hiện địa ch liên hệ của ông T1 tại thời điểm ngày 0 /01/2022 trư c thời điểm thụ lý 19/10/2022 là số 4 Đường số C, Khu phố D, phường A, thành phố T. Việc ông T1 cư trú Chung cư S địa ch 34 – C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh từ 06/6/2020 đến nay cùng lúc c thể cư trú tại các địa ch khác là uyền của cá nhân, pháp luật không cấm công dân cư trú tại nhiều nơi khác nhau.
Cấp sơ thẩm căn cứ hư ng d n tại Nghị uyết số 04/201 /NQ-HĐTP ngày 0 / /201 của Hội đồng thẩm phán hư ng d n nơi cư trú của bị đơn là địa ch chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện thường trú ho c tạm trú ho c đang sinh sống, do đ thời điểm Tòa án nhân dân uận Phú Nhuận chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án xác định thẩm uyền theo địa ch thường trú của ông T1 là số E Đường số C, Tổ E, Khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm uyền vì vậy vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý ngày 19/10/2022, thời điểm này ông T1 hoàn toàn không xác định được bất cứ địa ch nào khác trư c khi Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án. Đến ngày 20/10/2022, ông T1 m i đăng ký tạm trú tại Chung cư S địa ch 34 – C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự trường hợp vụ án dân sự đã được Tòa án thụ lý và đang giải uyết đúng thẩm uyền theo uy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm uyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án đ tiếp tục giải uyết m c dù trong uá trình giải uyết vụ án c sự thay đổi nơi cư trú của đương sự. Xác định vụ án thuộc thẩm uyền giải uyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo uy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 3 , điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 201 là đúng uy định.
Kiểm tra toàn bộ hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy việc tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối v i các bên đương sự được Cấp sơ thẩm thực hiện đúng uy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục cấp và tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án.
Đối v i Đơn khiếu nại Quyết định số 10/QĐ-GQKN về việc giải uyết khiếu nại của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức được ông T1 gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo biên nhận số 9026 ngày 0 /4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chưa được giải uyết, bị đơn cho rằng cần phải đợi kết uả giải uyết khiếu nại lần 2 m i được xét xử vụ án là không c căn cứ pháp luật.
Luật khiếu nại cũng như các văn bản pháp luật khác không c uy định Tòa án không được xét xử ho c tạm ngưng việc xét xử khi c khiếu nại của đương sự. Căn cứ uy định tại: K Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự 201 “Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thi p vào vi c xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, vi c gi i quy t vi c dân ự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào”; Điểm c khoản 2 Điều 00 Bộ luật Tố tụng dân sự 201 uy định “người khi u n i không được l m dụng quyền khi u n i để c n tr ho t động tố tụng của Tòa án” Điểm d khoản 2 Điều 00 Bộ luật Tố tụng dân sự 201 uy định “người khi u n i có nghĩa vụ chấp hành quy t đ nh, hành vi của người ti n hành tố tụng mà mình đang khi u n i trong thời gian khi u n i”. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định việc xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức trong thời gian người khiếu nại đang thực hiện khiếu nại là đúng uy định pháp luật.
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn yêu cầu hủy án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
Xét nội dung kháng cáo toàn bộ bản án của nguyên đơn tại Đơn kháng cáo ngày 2 /9/2023, bị đơn chủ yếu kháng cáo về thủ tục tố tụng, không c ý kiến nào đối v i phần nội dung và kết uả xét xử đã được tuyên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2023/DS-ST và kháng cáo được người đại diện theo ủy uyền của bị đơn trình bày bổ sung tại phiên tòa đối v i phần nội dung của Bản án sơ thẩm số 3606/2023/DS-ST, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Trong nội dung các giấy biên nhận đều ghi nhận việc ông Huỳnh Tấn Gia T1 mượn tiền của ông Ngô Duy T, Hội đồng xét xử phúc thẩm đối chiếu v i các uy định tại Điều 12, Điều 13 Bộ luật Dân sự 200 , Điều 494, Điều 49 Bộ luật Dân sự 201 về hợp đồng mượn tài sản, do đối tượng cho mượn theo các giấy biên nhận này là tiền là vật tiêu hao nên không xác định đây là uan hệ mượn tài sản. Nội dung các giấy biên nhận đều ghi nhận về lãi suất mượn không lãi suất và c ghi nhận thời hạn trả, giấy ngày 10/3/201 còn thể hiện nội dung “n u chậm trễ thì tôi ph i ch u thêm lãi uất vay của theo ngân hàng”, nội dung này thể hiện ý thức của người mượn tiền là ông Huỳnh Tấn Gia T1 thì đây là khoản tiền vay mượn không lãi suất. Trên cơ sở xem xét các Giấy biên nhận ngày 01/02/2013 Giấy biên nhận ngày 0 /01/2014, Giấy ngày 10/3/201 và Giấy biên nhận không ghi ngày Các giấy mượn tiền này đều c chữ ký và chữ viết của ông T1 ký nhận, tất cả giấy biên nhận vay tiền đều c bản chính và căn cứ Kết luận giám định số 3982/KL-KTHS ngày 2 /8/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C1, Cấp sơ thẩm căn cứ các uy định pháp luật tại các Điều 11 , Điều 119, Điều 38 , Điều 398, Điều 401, Điều 402, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 201 xác định uan hệ tranh chấp giữa hai bên là hợp đồng vay tài sản là đúng uy định.
Cấp sơ thẩm xác định ông Huỳnh Tấn Gia T1 c vay mượn của ông Ngô Duy T 04 lần v i tổng nợ gốc là 18.200.000.000 đồng, số tiền này đến nay ông T1 chưa trả cho ông T và đã uá thời hạn cam kết trả tiền nhưng ông T1 v n không thực hiện do đ c cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả toàn bộ số nợ gốc này cho nguyên đơn là c căn cứ.
Đối v i trình bày của người đại diện theo ủy uyền của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy uyền của bị đơn là Lê Thanh T2 trình bày là ông Huỳnh Tấn Gia T1 ch vay và thực tế nhận tiền của ông Ngô Duy T số tiền 9.000.000.000 đồng theo hai Giấy biên nhận ngày 01/02/2013 và ngày 10/3/201 . Các khoản tiền theo hai giấy còn lại gồm Giấy biên nhận 0 /01/2014 4. 00.000.000 đồng và Giấy biên nhận không ngày tháng 4. 00.000.000 đồng là những khoản ông T1 bị ông T b t ép ghi nợ để trả lãi vay cho các khoản nợ ngày 01/02/2013 và ngày 10/3/201 theo kiểu vay “n ng”, lãi suất cao là tiền lãi n ng, nên ông T1 không ghi nội dung đã nhận đủ tiền trên hai giấy biên nhận này nên đề nghị xem xét lại nội dung bản án đã tuyên của cấp sơ thẩm. Lời trình bày này của ông Lê Thanh T2 là người đại diện theo ủy uyền của bị đơn mâu thu n v i lời khai cũng của chính ông Lê Thanh T2 tại phiên tòa sơ thẩm ngày 12/9/2023. Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 12/9/2023, đại diện bị đơn cũng là ông Lê Thanh T2 thừa nhận bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 đã vay của ông Ngô Duy T số tiền 18.200.000.000 đồng. Xét nội dung thể hiện tại các Giấy biên nhận đều ghi nhận đây là những khoản tiền vay mượn không c lãi, không phải tiền cho vay mượn c lãi, nên việc ông Huỳnh Tấn Gia T1 nói rằng mình bị ép buộc phải ghi hai giấy biên nhận này và số tiền thể hiện trên giấy biên nhận là số tiền lãi vay “n ng”, lãi suất cao là không c căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo tại phiên tòa này của bị đơn.
[2.3] Về tiền lãi suất ông T yêu cầu ông T1 trả, Cấp sơ thẩm căn cứ khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự việc vay mượn giữa ông T1 và ông T là trường hợp vay không c lãi khi đến hạn bên vay không trả nợ thì bên cho vay c uyền yêu cầu trả tiền lãi v i mức lãi suất theo uy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng v i thời gian chậm thanh toán là đúng uy định. Cấp sơ thẩm chấp nhận mức lãi suất 10%/năm theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp v i uy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 201 .
Tiền lãi được tính v i lãi suất 10%/năm là phù hợp. Cụ thể: Giấy nợ ngày 01/02/2013, mượn .000.000.000 đồng, h n 8 tháng s trả, hạn cuối là ngày 01/10/2013, vậy thời gian tính lãi chậm thanh toán tính từ ngày 02/10/2013 đến ngày 12/9/2023 là 9 năm 11 tháng 10 ngày, số tiền lãi chậm thanh toán phát sinh là 4.9 2.031.000 đồng Giấy nợ ngày 0 /01/2014, mượn 4. 00.000.000 đồng, h n đến tháng 10/2014 s trả, thời gian tính lãi chậm thanh toán tính từ ngày 01/11/2014 đến ngày 12/9/2023 là 8 năm 10 tháng 11 ngày, số tiền lãi phát sinh là 3.988. 61.000 đồng Giấy nợ ngày 10/3/201 mượn 4.000.000.000 đồng, ngày cam kết trả là ngày 30/9/201 , thời gian tính lãi từ ngày 01/10/201 đến ngày 12/9/2023 là năm 11 tháng 11 ngày, số tiền lãi phát sinh là 3.1 8. 20.000 đồng Giấy nợ năm 2016 mượn 4. 00.000.000 đồng, ngày cam kết trả là ngày 31/12/2016, thời gian tính lãi từ ngày 01/01/201 tính đến ngày 12/9/2023 là 6 năm 8 tháng 11 ngày, số tiền lãi phát sinh là 3.14 .49 .000 đồng. Tổng số tiền lãi ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải trả cho ông Ngô Duy T tính đến ngày 12/9/2023 là 1 .286.809.000 đồng. Nhận thấy Cấp sơ thẩm xác định tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là đúng uy định.
Quá trình khởi kiện, nguyên đơn c rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình đối v i số tiền nợ ngày 03/02/201 , mượn .000.000.000 đồng do ông T nhận thấy chưa cần thiết giải uyết trong vụ án này nên ông T rút yêu cầu đối v i số tiền này. Cấp sơ thẩm c ghi nhận việc rút yêu cầu này của nguyên đơn nhưng không đình ch giải uyết đối vơi yêu cầu khởi kiện được nguyên đơn rút khi tuyên án là c thiếu s t. Do đ , Hội đồng xét xử thống nhất v i ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sửa án sơ thẩm do bổ sung việc đình ch đối v i một phần yêu cầu khởi kiện do nguyên đơn rút một phần yêu cầu.
Việc Cấp sơ thẩm ghi nhận ý kiến của bà Lê Thị K vợ ông Ngô Duy T xác định số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là của vợ chồng nhưng đề nghị Hội đồng xét xử giải uyết theo yêu cầu của nguyên đơn, trả cho ông Ngô Duy T là đúng uy định.
[ ] Về chi phí, lệ phí tố tụng: Chi phí giám định chữ ký do nguyên đơn ông Ngô Duy T tự nguyện chịu, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
Cấp sơ thẩm tuyên tiếp tục duy trì uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 20/2022/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2022 về việc “Phong tỏa tài sản của người c ngh a vụ đối v i tài sản là 2. 00.000 hai triệu năm trăm nghìn cổ phiếu của D mã chứng khoán: DC4 do Công ty Cổ phần X HOSE Địa ch : Tòa nhà R, số A đường C, Phường H, thành phố V, t nh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hành thuộc sở hữu của nhà đầu tư cá nhân ông Huỳnh Tấn Gia T1” và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 21/2022/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2022 về việc “Cấm xuất cảnh đối v i ông Huỳnh Tấn Gia T1, sinh năm 19 9 Số th căn cư c công dân: 08 0 900022 Cấp ngày 08/08/2018” để đảm bảo thi hành án là đúng uy định.
[ ] Đối v i số tiền 00.000.000 đồng tại tài khoản số 0602933642 6 đang bị phong tỏa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh T6 – Phòng G theo giấy xác nhận số dư ngày 02/11/2022 , Địa ch : số I đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Cấp sơ thẩm tuyên được giải tỏa ngay khi bản án c hiệu lực pháp luật là đúng uy định.
Án phí dân sự sơ thẩm: Cấp sơ thẩm xác định bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải chịu trên số tiền phải trả cho nguyên đơn, số tiền án phí phải chịu là 141.846.809 đồng nguyên đơn ông Ngô Duy T thuộc trường hợp người cao tuổi và c đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên được miễn là đúng uy định.
Hội đồng xét xử thống nhất v i đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, bổ sung việc đình ch đối v i một phần yêu cầu khởi kiện do nguyên đơn rút một phần yêu cầu.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí theo uy định pháp luật tại khoản 2 Điều 29 Nghị uyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội uy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, uản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 ,
- Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2023/DS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 3 , điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 22 , Điều 2 1, Điều 2 3 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 201 Điều 11 , Điều 119, Điều 3 , Điều 38 , Điều 398, Điều 401, Điều 402 Điều 463 Điều 46 Điều 466 Điều 468 Điều 4 0 của Bộ luật Dân sự năm 201 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Nghị uyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội uy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, uản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Đình ch giải uyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Duy T đã rút yêu cầu về việc buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải trả số tiền mượn .000.000.000 năm t đồng ngày 03/02/201 .
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Duy T: Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 c trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Ngô Duy T số tiền nợ gốc 18.200.000.000 mười tám t , hai trăm triệu đồng và tiền lãi suất tính đến ngày 12 tháng 9 năm 2023 là 1 .286.809.000 mười lăm t , hai trăm tám mươi sáu triệu, tám trăm, chín nghìn đồng. Tổng cộng là 33.486.809.000 ba mươi ba t , bốn trăm tám mươi sáu triệu, tám trăm, chín nghìn đồng.
Kể từ ngày bản án, uyết định c hiệu lực pháp luật đối v i các trường hợp cơ uan thi hành án c uyền chủ động ra uyết định thi hành án ho c kể từ ngày c đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối v i các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất uy định tại Điều 3 , Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 201 , trừ trường hợp pháp luật c uy định khác.
3. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 20/2022/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2022 về việc “Phong tỏa tài sản của người c ngh a vụ đối v i tài sản là 2. 00.000 hai triệu, năm trăm cổ phiếu của D mã chứng khoán: DC4 do Công ty Cổ phần X HOSE Địa ch : Tòa nhà R, số A đường C, Phường H, thành phố V, t nh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hành thuộc sở hữu của nhà đầu tư cá nhân ông Huỳnh Tấn Gia T1” và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 21/2022/QĐ-BPKCTT ngày 03/11/2022 về việc "Cấm xuất cảnh đối v i ông Huỳnh Tấn Gia T1, sinh năm 19 9 Số th căn cư c công dân: 08 0 900022 Cấp ngày 08/08/2018” để đảm bảo thi hành án đối v i bản án này.
Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 16/2022/QĐ-BPBĐ ngày 03/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về việc phong tỏa số tiền 00.000.000 năm trăm triệu đồng theo tài khoản số 0602933642 6 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh T6 – Phòng G theo giấy xác nhận số dư ngày 02/11/2022 , Địa ch : Số I đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được giải tỏa ngay khi bản án c hiệu lực pháp luật. Ông Ngô Duy T được nhận lại toàn bộ khoản tiền trên trong tài khoản phong tỏa tại ngân hàng.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 141.846.809 một trăm bốn mươi mốt triệu, tám trăm bốn mươi sáu nghìn, tám trăm không chín đồng.
- Nguyên đơn ông Ngô Duy T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
5. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh Tấn Gia T1 không phải chịu. H lại cho ông Huỳnh Tấn Gia T1 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 ba trăm nghìn đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/000 330 ngày 03/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM - Tòa án nhân dân tp. Thủ Đức - Chi cục Thi hành án dân sự tp. Thủ Đức - Các đương sự để thi hành - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tài |