vanban.org

Bản án 222/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ lu t Hình sự;

Căn c điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự; Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "GIÀNG A S- PHẠM TỘI TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ lu t Hình sự;
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 222/2023/HSST
Ngày 27 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; ông Lò Văn Viễn

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 218/2023/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng A S, sinh năm 1979, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản Co Đ, xã Mường S, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 1/10; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Giàng A V và bà Sộng Thị M; bị cáo có vợ là Lầu Thị M và 06 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2023 cho đến nay; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lầu Thị M, 43 tuổi; nơi cư trú: Bản Co Đ, xã Mường S, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 30 phút ngày 17/6/2023 tổ công tác Công an xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Huổi Dấng, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn về tội phạm M túy, tổ công tác đã ra tín hiệu yêu cầu dừng xe kiểm tra. Người đàn ông khai nh n là iàng A S, sinh năm 1979, nơi cư trú bản Co Đ a, xã Mường S, huyện Sông M. Qua kiểm tra phát hiện tại túi quần phía sau Sọ đang mặc có một gói nilon màu trắng bên trong ch a chất bột liên kết màu trắng ọ khai nh n là Heroine mục đích mua về sử dụng. Tổ công tác đã l p biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong v t ch ng, tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 26C1-269.09; 01 điện thoại di động nhãn hiệu V VO đã qua sử dụng.

Ngày 18/6/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành l p hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng v t ch ng và trích mẫu giám định, kết quả: Số bột liên kết màu trắng thu giữ có khối lượng 0,98 gam, trích 0,06 gam làm mẫu giám định ký hiệu S, v t ch ng còn lại 0,92 gam lưu kho ký hiệu L.

Kết lu n giám định số 1538/KL-KTHS ngày 20/6/2023 c a Phòng K thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La kết lu n: "M u ký hiệu g i giám định là M t y oại Heroine Heroin có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại ộ lu t hình sự năm 201 s a đ i b sung năm 201 và Nghị định số /2022/NĐ-CP ngày 2 / /2022 của Ch nh phủ quy định các danh mục chất M t y và tiền chất hối lượng của m u g i giám định là 0,06 gam T ng khối lượng M t y thu gi là 0,98 gam; loại Heroine Heroin có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại ộ lu t hình sự năm 201 s a đ i b sung năm 201 và Nghị định số /2022/NĐ-CP ngày 2 / /2022 của Ch nh phủ quy định các danh mục chất M t y và tiền chất".

Quá trình điều tra bị cáo Giàng A S khai nh n hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ ngày 17/6/2023, Sọ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26C1-269.09 từ nhà ở bản Co Đ, xã Mường S đến bản Pá Nó, xã Chiềng Cang, c ng huyện Sông Mã mục đích tìm mua M túy sử dụng, khi đi S Mng theo số tiền 200.000 đồng. Đến bản Pá Nó, S h i mua được c a một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết một gói Heroine được gói b ng nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua được M túy, S cất giấu vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi điều khiển xe quay về. Đến 18 giờ 30 phút c ng ngày, S về đến địa ph n bản Huổi Dấng, xã Chiềng Cang thì gặp tổ công tác Công an xã Chiềng Cang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ và niêm phong v t ch ng, tạm giữ đồ v t và phương tiện liên quan.

Cáo trạng số 167/CT-VKSSM ngày 12 tháng 9 năm 2023 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Giàng A S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A S đã khai nh n hành vi phạm tội c a mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều lu t viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 c a Bộ lu t Hình sự.

Xử phạt bị cáo Giàng A S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

V t ch ng c a vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX:

Tịch thu để tiêu h y 0,92 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 v phong bì thư niêm phong v t ch ng ban đầu đã bóc mở;

- Trả lại cho bị cáo iàng A S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21.

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lầu Thị M 01 xe Mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE; biển kiểm soát 26C1 - 269.09 xe đã qua sử dụng

Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Bị cáo Giàng A S không có ý kiến gì đối đáp với lời lu n tội c a Kiểm sát viên, khi được nới lời sau c ng bị cáo chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lầu Thị M đề nghị HĐXX xem xét xin được trả lại chiếc xe mô tô.

Căn c vào các ch ng c và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh lu n tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đ và toàn diện ch ng c , ý kiến c a Kiểm sát viên, lời khai c a bị cáo, ý kiến c a người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định c a cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều lu t áp dụng: Lời khai c a bị cáo tại phiên toà ph hợp với lời khai c a bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; v t ch ng thu giữ c a vụ án là ma túy, loại Heroine; kết lu n giám định và ph hợp với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 17/6/2023 bị cáo Giàng A S đã có hành vi tàng trữ 0,98 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nh n toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung c a vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như v y, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng tr trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn c , đúng người, đúng pháp lu t.

Từ những căn c nêu trên Hội đồng xét xử có đ cơ sở kết lu n: Hành vi mà bị cáo Giàng A S thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự, có khung hình phạt t từ một năm đến năm năm.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nh n th c được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy c a mình là vi phạm điều cấm c a pháp lu t nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp lu t, vi phạm chế độ độc quyền quản lý c a Nhà nước về chất ma túy và gây mất tr t tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn c tính chất, m c độ hành vi phạm tội c a bị các, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân c a bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt t giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nh m cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề có liên quan: Đối với người đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên, địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại bản Pá Nó, xã Chiềng Cang, Sông Mã vào ngày 17/6/2023. Do không xác định được họ tên đầy đ và địa chỉ nên không có căn c để xử lý trong vụ án này.

Về xử lý v t ch ng:

- Đối với 0,92 gam ma túy, loại Heroine là v t cấm lưu hành, tàng trữ; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 v phong bì thư niêm phong v t ch ng ban đầu đã bóc mở là v t không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu h y.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 được xác định là tài sản c a bị cáo, nhưng bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cần phải trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 xe Mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE; biển kiểm soát 26C1 - 269.09 xe đã qua sử dụng là phương tiện mà bị cáo Giàng A S sử dụng để đi mua ma túy ngày 17/6/2023, xe đăng ký Mng tên Lầu Thị M, nơi cư trú Pá Na, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã. Kết quả tra c u, chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy v t ch ng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lầu Thị M vợ c a bị cáo S) trình bày: Chiếc xe máy nêu trên là tài sản chung c a gia đình, xe mua từ năm 2022. Ngày 17/5/2023 chồng c a bà là bị cáo Giàng A S sử dụng chiếc xe máy để đi mua M túy, bị Công an bắt giữ và thu giữ chiếc xe thì bà không biết. Bà Lầu Thị M đề nghị xin được trả lại chiếc xe máy, nên HĐXX cần chấp nh n và trả lại 01 chiếc xe máy có đặc điểm nêu trên cho bà Lầu Thị M.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở v ng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ lu t Hình sự;

Căn c điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự;

Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất M túy.

- Xử phạt bị cáo Giàng A S 02 (hai năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 17/6/2023.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về v t ch ng:

- Tịch thu để tiêu huỷ 0,92 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 v phong bì thư niêm phong v t ch ng ban đầu đã bóc mở.

- Trả lại cho bị cáo Giàng A S 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh bạc, số IMEI1: 861428052981413; số IMEI2: 861428052981405.

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lầu Thị M 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE F , màu sơn xanh đen; biển kiểm soát 26C1-269.09, số khung: RLHJC7647MY106581, số máy: JC90E0219684, xe có 02 gương chiếu h u và đã qua sử dụng.

Những v t ch ng trên theo biên bản về việc giao nh n v t ch ng, tài sản l p hồi 15 giờ 30 phút ngày 15 tháng 9 năm 2023 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Bị cáo iàng A S được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2023).

Cỡ chữ