- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Mỷ H - Nguyễn Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Mỷ H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 222/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 3 - 2023 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tiến Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Trung Kiên
2. Bà Nguyễn Thị Lương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 804/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST - HNGĐ ngày 03/3/2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Mỷ H, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Đường A, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Q, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Đường A, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn ngày 27/9/2022 cùng lời trình bày tại bản tự khai ngày 27/10/2022 của bà Trương Mỷ H, thì bà và ông Q tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/7/2014. Quá trình chung sống, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Ông Q là người vô tâm, ham chơi nên không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Bà phải tự mình bươn chải và lo về kinh tế lẫn việc chăm sóc con cái. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Q.
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Khánh L, sinh ngày 20/01/2014, Nguyễn Tường V, sinh ngày 22/05/2015 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 24/09/2017. Bà yêu cầu được nuôi 03 con chung khi ly hôn, yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 2.000.000đ/tháng đến khi các con đến tuổi thành niên.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập tự khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Q không đến để tự khai, hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị đơn - ông Nguyễn Q vắng mặt.
Nguyên đơn - bà Trương Mỷ H trình bày:
Bà và ông Q tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/7/2014. Quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Ông Q là người vô tâm, ham chơi nên không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Bà phải tự mình bươn chải và lo về kinh tế lẫn việc chăm sóc con cái. Tại phiên tòa hôm nay bà vẫn cương quyết được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Khánh L, sinh ngày 20/01/2014, Nguyễn Tường V, sinh ngày 22/05/2015 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 24/09/2017. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung khi ly hôn, yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 1.000.000đ/tháng. Bắt đầu thi hành từ tháng 05/2023 đến khi các con lần lượt đến tuổi thành niên.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến.
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng là không thể hàn gắn, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Mỷ H đối với ông Nguyễn Q.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận để bà Trương Mỷ H được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Khánh L, sinh ngày 20/01/2014, Nguyễn Tường V, sinh ngày 22/05/2015 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 24/09/2017. Ông Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 1.000.000đ/tháng. Bắt đầu thực hiện từ tháng 05/2023 đến khi các trẻ lần lượt đến tuổi thành niên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết.
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 27/9/2022 của bà Trương Mỷ H; kết quả xác minh ngày 20/10/2022 của Công an Phường B, quận T thể hiện ông Nguyễn Q có hộ khẩu thường trú và đang thực tế cư trú tại địa chỉ: Đường A, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng.
Bị đơn - ông Nguyễn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Q là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự.
Về hôn nhân:
Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 89, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/7/2014 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trương Mỷ H và ông Nguyễn Q là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được pháp luật bảo vệ.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bà H vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông Q, vì không thể hàn gắn. Từ khi thụ lý đến khi xét xử, ông Q không đến Tòa án để tự khai, hòa giải, xét xử và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với việc bà H xin ly hôn, chứng tỏ ông Q không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét, lời trình bày của bà H là được ly hôn với ông Q, do vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn và tại phiên tòa bà H vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông Q là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H là được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Theo trình bày của bà H và bản sao giấy khai sinh do bà H cung cấp thể hiện, quá trình chung sống bà và ông Q có 03 con chung tên Nguyễn Khánh L, sinh ngày 20/01/2014, Nguyễn Tường V, sinh ngày 22/05/2015 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 24/09/2017. Nay bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 1.000.000đ/tháng. Xét thấy, để không làm xáo trộn và đảm bảo cuộc sống của 03 trẻ, nên giao 03 trẻ cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q phải cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 1.000.000đ/tháng. Bắt đầu thực hiện từ tháng 05/2023 đến khi các trẻ lần lượt đến tuổi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật, và cũng phù hợp với nguyện vọng của 03 trẻ là muốn ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của bà H.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ, ông Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 2 Điều 227; các điều 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 và 118 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 2, 6, 7, 9, 26, 30, 31 và 32 Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Mỷ H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Mỷ H được ly hôn với ông Nguyễn Q.
- Về con chung: Bà H được trực tiếp nuôi dưỡng 03 (ba) con chung tên Nguyễn Khánh L, sinh ngày 20/01/2014, Nguyễn Tường V, sinh ngày 22/05/2015 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 24/09/2017. Ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 1.000.000đ (một triệu đồng)/tháng. Bắt đầu thi hành từ tháng 5/2023 đến khi các trẻ lần lượt đến tuổi thành niên.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Trương Mỷ H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số --32047 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Q phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Quận Tân Bình; - Chi cục THA dân sự QTB; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ . | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Tiến Quang |