vanban.org

Bản án 222/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 584; 585; 592 Bộ luật dân sự;

Điểm d khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 584; 585; 592 Bộ luật dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2020/DS-ST
Ngày 11 tháng 12 năm 2020
V/v Bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Yên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Thắng

Ông Bùi Xuân Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khanh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Trong các ngày 03 và ngày 11 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 376/2020/TLST - DS ngày 13 tháng 7 năm 2020 về “Bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2020/QĐXXST – DS ngày 15 tháng 10 năm 2020, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau

Bị đơn: Bà Thái Thị L, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị N trình bày: Vào khoảng 12 giờ ngày 29/5/2020, bà Thái Thị L đến nhà bà mắng chửi, vu khống bà có quan hệ tình cảm với người khác, vụ việc có nhiều người chứng kiến, làm xấu hình ảnh của bà đối với gia đình, bà con láng giềng. Nay yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại danh dự cho bà các khoản bằng số tiền 25.000.000 đồng.

Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt các thủ tục tố tụng cho bà Thái Thị L đúng theo trình tự luật định nhưng bà L không có văn bản phản hồi về quan điểm xử lý vụ việc do bà N đặt ra tại vụ kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục:

Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt các thủ tục tố tụng cho bà Thái Thị L đúng theo trình tự luật định nhưng bà L không có văn bản phản hồi về vụ việc do bà N trình bày, yêu cầu, không đến Tòa án theo triệu tập.

Nên xét xử vắng mặt bà Thái Thị L.

Về nội dung:

Bà N xác định khoảng 12 giờ ngày 29/5/2020, bà Thái thị L ngang nhiên đến nhà bà dùng lời lễ thô tục mắng chửi, nói bà có quan hệ tình cảm bất chính với người khác có nhiều người chứng kiến, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà, bôi nhọ bà với gia đình và láng giềng xung quanh. Tác động của vụ việc trên làm cho gia đình bà mâu thuẫn, bà bị chồng mắng chửi, đánh đập, các con của bà nghi ngờ bà có quan hệ không đúng đắn.

Việc bà L chửi, mắng bà N như trình bày trên thể hiện tại nội dung biên bản vi phạm hành chính do Công an Thị trấn Sông Đốc lập ngày 12/6/2020 đối với bà Thái Thị L. Xử lý hành vi trên, tại quyết định phạt hành chính số 289/QĐ –XPVPHC, ngày 17/6/2020 Trưởng Công an Thị trấn Sông Đốc phạt bà Thái Thị L 200.000 đồng. Nên xác định bà L xúc phạm danh dự bà N là có thật, bà N yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại là đúng với qui định của pháp luật.

Theo đơn kiện, bà N yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại danh dự bằng 25.000.000 đồng. Giải thích về mức tiền bà N yêu cầu trên, bà N xác định do bà tự định lượng ra mức yêu cầu bồi thường, thực tế ngoài tổn thất về tin thần ra, tác động từ vi phạm của bà L không gây tổn thất vật chất khác cho bà. Nên xác định bà N bị thiệt hại trong trường hợp này là tổn thất tinh thần, buộc bà L bồi thường cho bà N trong phạm vi thiệt hại thực tế.

Theo qui định tại Bộ luật dân sự - “Điều 592 Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh

-2-

chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Đối chiếu qui định của pháp luật với trường hợp cụ thể của bà N buộc bà L bồi thường cho bà N tổn thất tin thần bằng 5.000.000 đồng - Mức bồi thường này nằm trong khung cho phép của pháp luật mà Hội đồng xét xử nhận thấy tương ứng mức độ lỗi của bà L gây ra, bù đắp tổn thất tin thần cho bà N.

Cũng từ lý do trên, không chấp nhận yêu cầu chênh lệch của bà N buộc bà L bồi thường 20.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N không phải chịu. Bà L phải chịu án phí theo qui định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 26; 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng: Các Điều 584; 585; 592 Bộ luật dân sự;

Điểm d khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Buộc bà Thái Thị L bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Nguyễn Thị N với số tiền bằng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Không chấp nhận yêu cầu chênh lệch của bà Nguyễn Thị N buộc bà Thái Thị L bồi thường 20.000.000 đồng.

Kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả thì hàng tháng bà L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông N không phải chịu án phí. Bà Thái Thị L phải chịu 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc

-3-

bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án này là sơ thẩm, bà N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Thái Thị L có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ