vanban.org

Bản án 222/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Huỳnh G.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Huỳnh G và anh Phương Minh Q là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/8/2018 cho chị Nguyễn Huỳnh G tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Huỳnh G khởi kiện ly hôn anh Phương Minh Q"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Huỳnh G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2019/HNGĐ-ST
Ngày 09-10-2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 409/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Huỳnh G, sinh năm 1996 (có mặt)

Cư trú tại: Ấp TANB, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Phương Minh Q (vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp TLA, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Huỳnh G trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Q chung sống với nhau từ năm 2017, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến tháng 4 năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Chị G xác định không còn tình cảm với anh Q nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Anh chị có một người con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/8/2018, hiện nay do chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị G yêu cầu nuôi con, việc cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản và nợ: Không có.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phương Minh Q nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến giải trình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Anh Phương Minh Q đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Q là phù hợp.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Huỳnh G và anh Phương Minh Q chung sống năm 2017 trên tinh thần tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị G và anh Q.

Về con chung: Chị G yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H. Xét thấy: Từ khi anh chị ly thân đến nay, cháu H sống chung với chị vẫn phát triển đầy đủ về mặt thể chất lẫn tinh thần, đến thời điểm xét xử cháu H dưới 36 tháng tuổi. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu H cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về tài sản và nợ: Chị G xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí: Chị G phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Huỳnh G.

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Huỳnh G và anh Phương Minh Q là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 13/8/2018 cho chị Nguyễn Huỳnh G tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh Phương Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Huỳnh G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009741 ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị G đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Chị Nguyễn Huỳnh G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phương Minh Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ