- Tranh chấp gì? "Mua bán trái phéo chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: ị cáo Lê Hoàng Thanh N (T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM N NINH I , THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án số: 11 HS-ST Ngày: 19/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: à Nguyễn Thị Ngọc ích
Các Hội thẩm nhân dân:
1. à Nguyễn Thị Mai Hồng
. Ông Nguyễn Trần Triều
- Thư ký phiên tòa: à Trần Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông ùi Quốc Tuấn, ông ùi H i Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 1 năm
, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18
HSST ngày 6 tháng 1 năm
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 979
QĐXXST-HS ngày 7 tháng 1 năm
đối với bị cáo:
1/ Lê Hoàng Thanh N (tina), sinh năm:
, tại Cần Thơ;
Nơi cư trú: ấp Trường Tây, xã Trường Thành, huyện Thới Lai, thành
phố Cần Thơ;
Chỗ ở: 9
8A Hùng Vương, phường Thới ình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ;
Nghề nghiệp: làm thuê;
Trình độ học vấn: 7 1 ;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nữ;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Lê Văn và bà Lê Thị Ánh N1 (chết);
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không;
ị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 9
. Hiện tại bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an quận N;
ị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Thanh N luật sư: Nguyễn Minh T – công ty L1 – Đoàn luật sự thành phố Cần Thơ (có mặt).
2/ Đặng Đình Đăng , sinh năm:
, tại Tiền Giang;
Nơi cư trú: 4 Vũ Mạnh, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
Chỗ ở: Nhà trọ Lương Triệu Vỹ, đường Tầm Vu, phường Hưng Lợi,
quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 7/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Đặng Đình C (chết) và bà Cao Thị N ;
ị cáo có 1 người chị sinh năm 1997;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không;
ị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 9
. Hiện tại bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an quận N;
ị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị Tú T1, sinh năm: 1999 (Có văn b n đề nghị gi i quyết vắng mặt)
Địa chỉ: D khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ liên hệ: 88 N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
2/ Bà Mai Yến K, sinh năm: 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã , huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ liên hệ: Nhà trọ không số đường L, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI D NG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 45 phút, ngày 9
, sau khi xác minh tin báo từ người dân lực lượng trinh sát phòng C nh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố C đã kết hợp cùng Công an phường T tiến hành khám xét khẩn cấp người, phương tiện đối với Đặng Đình Đăng Q khi đang điều khiển xe đi đến ngã 3 đường N và đường T. Qua khám xét thu giữ:
- 1 gói nilon màu đen nẹp miệng bên trong có viên nén màu cam; 1 gói nilon màu đen nẹp miệng chứa tinh thể không màu;
- 01 gói nilon màu đen nẹp miệng bên trong có viên nén màu nâu và các tinh thể không màu (thu trong túi áo khoác bên trái của Q đang mặc);
- 1 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision biển số 65H1-365.27;
- 1 điện thoại Iphone màu đen, bể màn hình.
Tại Kết luận giám định số 1 KL-KTHS ngày 5 4
của Phòng K2 - Công an thành phố C, kết luận:
- 03 viên nén màu cam (ký hiệu M1A) và viên nén màu nâu (ký hiệu M A) gửi giám định là ma túy, loại MDMA. Tổng khối lượng 2,8789 gam;
- Tinh thể không màu (ký hiệu M1 và M ) gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Tổng khối lượng 3,4846 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Đình Đăng Q khai nhận: số ma túy trên Q vừa nhận tại nhà của Nguyễn Minh K1 và Lê Hoàng Thanh N, địa chỉ số I H, phường T, quận N mang đi giao cho người mua theo yêu cầu của K1 và N để nhận tiền công.
Từ lời khai của Q, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Lê Hoàng Thanh N (T) và Nguyễn Minh K1 tại địa chỉ: I H, phường T, quận N. Tại thời điểm khám xét chỉ có Lê Hoàng Thanh N và Nguyễn Thị Tú T1 (thuê cùng nhà) có mặt tại địa chỉ trên. Qua khám xét thu giữ:
* Tại phòng ngủ của Nguyễn Minh K1 và Lê Hoàng Thanh N (ở tầng 1) thu giữ:
- 1 gói giấy nẹp miệng bên trong chứa 6 viên nén màu cam; 1 gói nilon buộc miệng bên trong chứa 8 viên nén màu nâu; 1 gói nilon nẹp miệng chứa các hạt tinh thể không màu (gói 1);
- 1 hộp nhựa màu xanh có nắp đậy màu trắng bên trong chứa: 1 gói nilon màu đen nẹp miệng bên trong chứa 15 viên nén màu cam; 9 gói nilon màu đen nẹp miệng đều chứa tinh thể không màu (gói );
- 1 tờ tiền Việt Nam mệnh giá
đồng quấn lại, bên trong chứa chất bột màu trắng (gói );
- 1 đĩa màu trắng, trên đĩa đựng chất bột màu trắng (gói 4);
- 5 gói nilon màu đen nẹp miệng, rỗng bên trong;
- 1 cân điện tử màu đen;
- 1 điện thoại di động Iphone 1 Pro Max màu xanh dương, sim số 0907.582.724;
- Tiền Việt Nam: . . đồng.
* Thu giữ tại phòng khách:
- 1 bao da màu đen bên trong có 1 gói nilon nẹp miệng chứa viên nén màu nâu và 1 viên nén màu cam; gói nilon nẹp miệng màu đen đều chứa tinh thể không màu (gói 5);
- 1 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1. đồng được quấn lại, bên trong chứa 02 viên nén màu nâu (gói 06).
- 1 khẩu súng bằng kim loại màu trắng ký hiệu 1TH4 77;
- 1 điện thoai di động Iphone 1 Pro Max (thu của Nguyễn Thị Tú T1).
Tại Kết luận giám định số 1 1 KL-KTHS ngày 5 4
của Phòng K2 - Công an thành phố C, kết luận:
- 5 viên nén màu cam (ký hiệu M1A, M A, M5 ) gửi giám định là ma túy, loại MDMA. Tổng khối lượng 4,8711 gam.
- 1 viên nén màu nâu (ký hiệu M1C, M5A, M6) gửi giám định là ma túy, loại MDMA. Tổng khối lượng 5,8457 gam.
Tổng khối lượng MDMA là: 30,7168 gam.
-1 gói tinh thể không màu (ký hiệu M1 , M , M5C) gửi giám định là ma túy loại Ketamine. Tổng khối lượng 59,44 gam.
-Tờ tiền Việt Nam mệnh giá . đồng quấn lại, bên trong có chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M ) gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,1955 gam.
- Đĩa màu trắng có đựng chất bột màu trắng (ký hiệu M4) gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng ,1884 gam.
Tổng khối lượng etamine là: 59, 8262 gam.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Hoàng Thanh N khai nhận: bị cáo và Nguyễn Minh K1 sống chung như vợ chồng và thuê nhà số I H, phường T, quận N để ở. ị cáo biết K1 mua bán trái phép ma túy loại MDMA và Ketamine từ tháng 02/2023, K1 trực tiếp mua, phân chia ma túy và giao dịch với khách mua. ị cáo giúp K1 nhận tiền chuyển kho n của khách mua ma túy thông qua tài kho n ngân hàng V tên Lê Hoàng Thanh N sau đó chuyển lại cho K1; ngoài ra khi có khách hoặc bạn của bị cáo như Pé B1, Phương L…liên hệ mua ma túy, bị cáo cũng báo lại cho K1 để K1 tự trao đổi giao dịch với họ. Tiền mua bán trái phép chất ma túy và tr tiền công giao ma túy cho bị cáo Đặng Đình Đăng Q là do K1 giữ, chi tr ; Khương chỉ đưa tiền cho N để chi tr chi phí sinh hoạt chung, tiền thuê nhà, bị cáo cũng có tr tiền công đi giao ma túy cho Q từ 1 . đồng đến . . đồng. Kho ng 18 giờ phút ngày 9
, bị cáo đang ở nhà số I H cùng bạn là Nguyễn Thị Tú T1 thì có người tên T2 (Chan C1) nhắn tin vào Zalo của bị cáo (T) đặt mua viên thuốc lắc (MDMA) và nửa hộp khay (Ketamine), giao tại Karaoke Q, đường L, phường C, quận N, bị cáo đồng ý và nhắn lại cho C1 Chan biết Q là người đi giao ma túy. Một lúc sau bị cáo Q đến gặp N và nói lấy đồ (ma túy) đi giao cho anh K1, bị cáo tr lời là K1 đã nói cho biết rồi. Q trực tiếp đến ghế sofa tại phòng khách tầng trệt lấy ma túy đi giao, N đưa vị trí và số điện thoại của khách cho Q biết để liên lạc khi giao. Khi Q đi kho ng phút thì lực lượng Công an đến tiến hành khám xét, thu giữ loại ma túy MDMA và Ketamine tại phòng ngủ của bị cáo và K1 ở tầng 1 và ở salon phòng khách; tất c số ma túy này là của K1 mua, cất giấu để bán trái phép nhưng không biết khối lượng và giá tiền mua.
ị cáo Đặng Đình Đăng Q khai nhận đã đi giao ma túy cho K1 và N (Tina B2) kho ng 1 tháng để nhận tiền công. Nguyễn Minh K1 đưa ma túy cho bị cáo đi giao kho ng 1 lần, tiền công K1 tr mỗi lần là 5 . đồng; ị cáo Lê Hoàng Thanh N đưa ma túy cho bị cáo đi giao - lần, tiền công Nhã tr từ 200.000 -1. . đồng lần giao. Ngày 9
, sau khi nhận điện thoại của Nguyễn Minh K1, bị cáo đến nhà gặp bị cáo N rồi lấy ma túy mang đi giao theo địa chỉ N đưa thì bị bắt.
Đối với khối lượng ma túy thu giữ tại phòng ngủ tầng 1 và tại salon phòng khách nhà số I H, phường T, quận N là 30,7168 gam MDMA và 59, 8262 gam Ketamine cùng khối lượng ma túy bị cáo Đặng Đình Đăng Q bị bắt khi mang đi giao 2,8789 gam MDMA và 3,4846 gam Ketamine. Tổng khối lượng: 33,5957 gam MDMA và 63,3108 gam Ketamine, Cơ quan điều tra xác định đều là của Nguyễn Minh K1; tuy nhiên do K1 không có mặt ở nhà số I H, phường T, quận N khi khám xét nên Cơ quan c nh sát điều tra - Công an thành phố C đã tách vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” và ra Quyết định truy tìm Nguyễn Minh K1 để điều tra, xử lý trong vụ án khác.
Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số 65H1- 65. 7 và 1 điện thoại Iphone màu đen, 1 điện thoại Iphone 1 Pro Max là phương tiện, công cụ bị cáo Lê Hoàng Thanh N và Đặng Đình Đăng Q sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Riêng số tiền . . đồng là tài s n cá nhân của bị cáo N.
Đối với 1 khẩu súng bằng kim loại màu trắng ký hiệu 1TH4 77 (thu giữ của bị cáo Q). Q khai nhận mua trên mạng xã hội, Q sử dụng để trưng bày. Theo Kết luận giám định số 191 KL - KTHS ngày 6
của Phân viện khoa học hình sự - ộ C tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: súng đồ chơi nguy hiểm, không ph i vũ khí quân dụng.
Đối với điện thoại Iphone 1 Pro Max thu giữ của Nguyễn Thị Tú T1 quá trình điều tra xác định không liên quan vụ án nên Cơ quan C nh sát điều tra - Công an thành phố C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, tr lại cho bà T1.
Đối với những người mua ma túy có nickname tên “ é P”, “Phương L” liên hệ mua ma túy của bị cáo N và Q. Tuy nhiên, do N và Q không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Qua trình điều tra, bị cáo Lê Hoàng Thanh N, Đặng Đình Đăng Q thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi pham tội là tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Về nhân thân: 02 bị cáo chưa tiền án, tiền sự.
Tại b n cáo trạng số: CT –VKSNK ngày 4 tháng 1 năm
Viện kiểm sát nhân dân quận N truy tố: bị cáo Lê Hoàng Thanh N và Đặng Đình Đăng Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, Kho n Điều 51 ộ luật hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 17.
Tại phiên tòa:
ị cáo Lê Hoàng Thanh N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin gi m nhẹ hình phạt.
ị cáo Đặng Đình Đăng Q thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin gi m nhẹ hình phạt.
Luật sư Nguyễn Minh T trình bày: thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết gi m nhẹ thành khẩn khai báo. Đề nghị áp dụng thêm tình tiết gi m nhẹ: phạm tội do lạc hậu cho bị cáo N vì bị cáo N còn trẻ, thiếu nhận thức có tình c m với K1 nên đã sống chung và giúp sức cho K1 mua bán ma túy, gia đình bị cáo hoàn c nh khó khăn cha mẹ mất sớm, sống cùng ông bà ngoại nên đề nghị hôi đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hành phạt thấp nhất của khung hình phạt. Việc bán ma túy có sinh lợi nhưng K1 là người giữ tiền, bị cáo N không có hưởng lợi từ việc bán ma túy của K1. ị cáo N sống chung với K1 nên K1 đưa tiền cho bị cáo N chi tr sinh hoạt phí hàng ngày là phù hợp nên đề nghị không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo N.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát:
Truy tố bị cáo Lê Hoàng Thanh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, Kho n Điều 51 ộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, Kho n Điều 51, điểm s kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 17. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Thanh N mức án từ 11 (mười một) đến 1 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung bị cáo N từ 1 . . đ (mười triệu đồng) đến 15. . (mười lăm triệu đồng).
Truy tố bị cáo Đặng Đình Đăng Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, Kho n Điều 51 ộ luật hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, Kho n Điều 51, điểm s kho n 1, Kho n Điều 51 ộ luật Hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 17. Xử phạt bị cáo Đặng Đình Đăng Q mức án từ 9 (chín) năm đến 1 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung bị cáo Q từ 1 . . đ (mười triệu đồng) đến 15. . (mười lăm triệu đồng).
Áp dụng Điều 47 ộ luật Hình sự, Điều 1 6 ộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: gói niêm phong số: 1 G1 KL-KTHS và 100G2/KL-KTHS ngày 5 4
của phòng K2 công an thành phố C, 1 họp niêm phong cho chữ ký của Lê Thanh Q1, Lê Hoàng Thanh N, Trần Trung H bên trong có 1 khẩu súng kim loại màu trắng ký hiệu 1TH4 77, 1 cân điện tử, 1 áo khoác, 5 gói nilon màu đen nẹp miệng, rỗng bên trong.
Đề nghị tịch thu sung công: 1 xe mô tô biển số 65H1- 65. 7 số máy: JF66E 869848, số khung RLHJF 5816GY886916, 1 điện thoại hiệu Iphone màu đen, model A1784, bể màn hình, 1 điện thoại iphone 1 Pro Max màu xanh dương, số sim 9 7.58 .7 4
Tr lại cho bị cáo N: Tiền Việt Nam . . đ theo biên lai thu tiền số 458 ngày 5 1
của Chi cục thi hành dân sự quận N (nhưng tạm giữ để đ m b o thi hành án) vì đây là tiền các nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
NH N ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận.
Ngày 9
bị cáo Q đến nhà K1 nhận ma túy để đi giao, nhưng không có K1 ở nhà, bị cáo Q đã gặp N. N biết Q đến nhận ma túy đi giao cho người mua nhưng không có phương tiện di chuyển nên kêu Q dùng xe mô tô biển số 65H1- 65. 7 để đi giao ma túy. Theo kết luận giám định số: 1 KL - KTHS ngày 5 4
của Phòng K2 - Công an thành phố C ma túy thu được trên người bị cáo Q khi mang đi giao cho người mua bao gồm: ma túy loại MDMA, có khối lượng: .8789 gam và Ketamine, có khối lượng ,4846 gam.
Các bị cáo Lê Hoàng Thanh N, Đặng Đình Đăng Q biết Nguyễn Minh K1 thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên các bị cáo đã giúp sức trong việc bán trái phép chất ma túy bằng các hành vi như sau: bị cáo Q nhiều lần đi giao ma túy cho K1 và nhận tiền công từ việc giao ma túy. ị cáo N đã nhiều lần nhận tiền từ việc bán ma túy cho K1 và nhiều lần tr tiền công đi giao ma túy cho Q, cung cấp phương tiện cho Q đi giao ma túy nên bị cáo N có vai trò giúp sức tích cực hơn bị cáo Q nên bị cáo N ph i chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo Q.
Hành vi các bị cáo nhiều lần giúp sức cho K1 đi giao ma túy, nhận tiền từ việc bán ma túy, cung cấp phương tiện để thực hiện hành vi giao ma túy cho người mua đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về qu n lý chất ma túy của nhà nước và đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b kho n Điều 51 ộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối c i nên các bị cáo được hưởng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 17. Gia đình bị cáo Q là người công nên được áp dụng tình tiết gi m nhẹ theo kho n Điều 51 ộ luật Hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình bị tạm giam bị cáo Q không chấp hành đúng nội quy của nhà Tạm giữ bị điều này thể hiện sự thiếu ý thức và xem thường pháp luật của bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo N thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh điều luật áp dụng, tình tiết gi m nhẹ thành khẩn khai báo và đề nghị áp dụng thêm tình tiết gi m nhẹ: phạm tội do lạc hậu là không phù hợp. Vì bị cáo là người trưởng thành, có trình độ học vấn, sống trong môi trường văn minh, được tiếp xúc với các phường tiện truyền thông hiện đại, hiểu biết tác hại của ma túy đối với cộng đồng. ị cáo biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
ị cáo Q đã nhiều lần đi giao ma túy cho K1, mỗi lần giao ma túy bị cáo Q hưởng lợi 5 . đ. ị cáo N nhiều lần nhận tiền mua ma túy giùm K1, nhiều lần tr tiền công đi giao ma túy cho Q, K1 đã nhiều lần đưa tiền cho N để chi tr sinh hoạt phí. Các bị cáo đều hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy nên việc phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp. Hiện tại hoàn c nh gia đình của các bị cáo khó khăn nên chỉ phạt bổ sung cho các bị cáo với mức 1 . . đ (mười triệu đồng) đối với mỗi bị cáo.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về xử lý vật chứng:
- Ma túy là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy ma túy và các vật dụng dùng để chứa, sang chiết ma túy: tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số: 1 G1 KL-KTHS và 100G2/KL-KTHS ngày 5 4
của phòng K2 công an thành phố C, 1 cân điện tử, 1 áo khoác, 5 gói nilon màu đen nẹp miệng, rỗng bên trong.
- Khẩu súng kim loại màu trắng ký hiệu 1TH4 77 là đồ chơi nguy hiểm nên tịch tiêu hủy
- 01 xe mô tô biển số 65H1- 65. 7 số máy: JF66E 869848, số khung RLHJF 5816GY886916 là phương tiện bị cáo N đã kêu Q sử dụng để đi giao ma túy nên tịch thu sung công.
- 1 điện thoại hiệu Iphone màu đen, model A1784, bể màn hình, 1 điện thoại iphone 1 Pro Max màu xanh dương, số sim 9 7.58 .7 4 các bị cáo dùng để liên hệ giao ma túy nên tịch thu sung công.
- Tiền Việt Nam . . đ theo biên lai thu tiền số 458 ngày 5/12/2023 của Chi cục thi hành dân sự quận N tiền cá nhân của bị cáo N, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tr cho bị cáo N.
[4] Về án phí: Mỗi bị cáo ph i chịu . đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
YẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào theo điểm b Kho n Điều 51, điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 58, Điều 8 ộ luật Hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 17.
1. Tuyên bố: ị cáo Lê Hoàng Thanh N (T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: ị cáo Lê Hoàng Thanh N (tina) 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 9
.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Hoàng Thanh N: 1 . . đ (mười triệu đồng).
Căn cứ vào theo điểm b Kho n Điều 51, điểm s kho n 1, kho n Điều 51, Điều 58, Điều 8 ộ luật Hình sự năm 15 sửa đổi, bổ sung năm 17.
2. Tuyên bố: ị cáo Đặng Đình Đăng
phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: ị cáo Đặng Đình Đăng 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 9
.
Phạt bổ sung bị cáo Đặng Đình Đăng : 1 . . đ (mười triệu đồng).
3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- Gói niên phong 100G1/KL-KTHS và 100G2/KL-KTHS ngày 05/04/2023 của phòng K2 công an thành phố C, 1 cân điện tử, 1 áo khoác, 5 gói nilon màu đen nẹp miệng, rỗng bên trong.
- 1 họp niên phong có chữ ký của ông Lê Thanh Q1, Lê Hoàng Thanh N, Trần Trung H bên trong có khẩu súng bằng kim loại màu trắng ký hiệu 21TH4377.
Tịch thu sung công:
- 1 xe mô tô biển số 65H1- 65. 7 số máy: JF66E 869848, số khung RLHJF 5816GY886916.
- 1 điện thoại hiệu Iphone màu đen, model A1784, bể màn hình.
- 1 điện thoại iphone 1 Pro Max màu xanh dương.
Trả lại cho bị cáo N: Tiền Việt Nam . . đ (hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 458 ngày 5 1
của Chi cục thi hành dân sự quận N (nhưng tạm giữ để đ m b o thi hành án).
4. Về án phí: Áp dụng Điều Nghị quyết số 6 16 U TVQH14 ngày
1 16 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo ph i chịu . đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo b n án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ gi i quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp b n án, được thi hành theo quy định tại Điều Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc B3 |