- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Thanh T - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 221/2026/HSST Ngày: 31-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu L.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Ngọc T.
2. Bà Nguyễn Thị Kim A.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thu H – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân T - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 323/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh T, sinh năm: 1986, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số F Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); nơi ở hiện nay: Số A Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H và bà Lý Thị N; chưa có vợ, con; tiền sự: Ngày 30/5/2024, Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPVPHC về hành vi đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng; tiền án: không; bị cáo đang bị áp dụng biện ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/11/2024 đến nay; (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 30/10/2024, tại địa chỉ số A đường N, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), Lê Hữu P, Nguyễn Ngọc T1 và Huỳnh Thanh T ngồi uống cà phê chung bàn với nhau. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, P rủ cả nhóm đánh bạc thắng thua bằng tiền theo hình thức chơi bài "Phỏm" 9 lá (người làm cái 10 lá) thì L, T và T1 đồng ý. Lúc này L lấy bộ bài Tây 52 lá của quán (L chuẩn bị sẵn khi có khách nào cần mua thì bán) để cả nhóm đánh bạc.
Cách thức chơi như sau: Giá trị từ cao đến thấp từ: K> Q> J> 10> 9> 8> 7> 6> 5> 4> 3> 2> A. Trong đó lá K là lớn nhất tương đương số điểm cao nhất (13 điểm) và A là bé nhất tương đương với số điểm thấp nhất (1 điểm). Các lá bài có cùng giá trị hoặc có các giá trị đứng liên tiếp nhau tạo thành một nhóm (ít nhất 3 lá) và được gọi là phỏm. Chia bài: Có một người nhận 10 quân (người làm cái), những người còn lại nhận 9 quân bài. Còn các lá còn lại để thành một chồng gọi là “nọc”. Bình thường, bài được chia ngược chiều kim đồng hồ. Người chia nhận quân bài cuối (quân bài thứ 10) trong mỗi lượt chia bài. Cách tính phỏm: Rác (hay bài lẻ): bài rác là những lá bài riêng lẻ không thể kết hợp với lá bài khác theo “giá trị” hay “độ ưu tiên”. Nếu hai lá bài rác đã có tiêu chuẩn của một phỏm thì được xếp thành “cạ”. Ba/bốn lá (hay phỏm ngang): là sự kết hợp của ít nhất ba lá bài có cùng giá trị. Sảnh (hay dây, phỏm dọc): là sự kết hợp của ít nhất ba lá bài có cùng chất và có giá trị liên tiếp nhau. Ai không có bộ ba lá hoặc sảnh nào trong 09 lá bài được chia, khi hạ bài (nếu vẫn có “cạ”) thì người đó bị “móm” (cháy bài) thì thua bài ngay lập tức. Cách đánh: Người đi đầu (người có 10 quân) đánh 1 lá bài rác trên tay của mình. Người kế tiếp có thể ăn lá bài đó nếu nó có thể hợp với bài trên tay thành một phỏm. Nếu người kế tiếp không thể ăn hoặc không có nhu cầu ăn lá bài rác người tay trên đánh xuống, người đó phải bốc 1 lá bài từ “nọc”. Sau đó, người đó lại đánh 1 lá bài rác trên tay của mình. Người thứ ba lại có thể ăn hoặc bốc 1 lá bài ở giữa bàn nếu không ăn rồi đánh lá bài rác cho người thứ tư, và cứ như vậy cho đến khi ván bài kết thúc. Ván bài kết thúc khi có một người ù (Số lá bài trên tay người chơi có thể sắp xếp thành 3 phỏm chỉ dư 1 lá hoặc tương đương với sau khi hạ hết phỏm người đó còn 0 điểm). Nếu không có ai ù, ván bài sẽ kết thúc sau 4 vòng đánh. Trước khi đánh lá bài rác trong vòng 4, người chơi cần trình tất cả những phỏm mình có cho mọi người biết (còn gọi là "hạ"). Sau khi tất cả các tụ đã hạ bài thì ván bài kết thúc, mỗi người sẽ tính điểm của mình bằng cách cộng điểm của tất cả các quân bài với nhau (Giá trị từ cao đến thấp như sau: K> Q> J> 10> 9> 8> 7> 6> 5> 4> 3> 2> A. Lá K là lớn nhất tương đương số điểm cao nhất (13 điểm) và A là bé nhất tương đương với số điểm thấp nhất (1 điểm). Người ít điểm nhất sẽ về nhất, tiếp đó là người có điểm thấp nhì, thấp ba và cao nhất. Trường hợp có nhiều người có điểm bằng nhau, người hạ bài trước sẽ được ưu tiên về bài trước người hạ sau. Người bị móm (hay cháy) thì xem như về vị trí cuối (vị trí thứ tư hay “bét”). Nếu trong ván bài có một người ù, thì người đó ngay lập tức về nhất và 3 người còn lại bị thua như nhau (không phân hạng).
Cách thắng thua bằng tiền như sau:
- Ăn phỏm (vòng 1, 2, 3): 10.000 đồng.
- Ăn chốt hạ (vòng 4): 40.000 đồng.
- Cháy: 40.000 đồng.
- Ván bài có người “Ù” thì 03 tụ còn lại mỗi tụ thua 40.000 đồng.
- Ván bài phải tính điểm thì người ít điểm nhất thắng 03 tụ còn lại theo thứ tự: thắng 10.000 đồng đối với người ít điểm thứ 2; thắng 20.000 đối với người ít điểm thứ 3 và thắng 30.000 đồng đối với người lớn điểm nhất.
Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi L, P, T1 và T đang đánh bạc thì lực lượng Công an phường đến bắt quả tang, thu giữ tại trên chiếu bạc số tiền 1.090.000 đồng. Trong đó, P tham gia đánh bạc mang theo số tiền 100.000 đồng, khi bị bắt P thắng 140.000 đồng, thu giữ tại chiếu bạc số tiền: 240.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc. Lê L tham gia đánh bạc không mang theo tiền, khi bị bắt L thắng 150.000 đồng, thu giữ tại chiếu bạc số tiền: 150.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nguyễn Ngọc T1 tham gia đánh bạc mang theo số tiền 190.000 đồng, khi bị bắt T1 thua hết 190.000 đồng, không thu giữ tại chiếu bạc số tiền nào. Huỳnh Thanh T tham gia đánh bạc mang theo số tiền 800.000 đồng, khi bị bắt T thua 100.000 đồng, thu giữ tại chiếu bạc số tiền: 700.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Vật chứng vụ án: Tiền Việt Nam Đồng 1.090.000 đồng; 01 (một) bộ bài Tây 52 lá.
Cơ quan điều tra đã nhập kho số vật chứng nêu trên theo Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 201/PNK ngày 18/4/2025 và Giấy nộp tiền ngày 25/3/2025 tại Ngân hàng TMCP C.
Trách nhiệm dân sự: không có.
Đối với hành vi tham gia đánh bạc của Lê Hữu P, Nguyễn Ngọc T1, Lê L tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng; chưa có tiền án tiền sự về hành vi được quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Do đó, chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên.
Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS-KV7 ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt Huỳnh Thanh T từ 6 tháng đến 9 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 1.090.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng).
- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (một) bộ bài Tây 52 lá.
Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án khoan hồng nhất để bị cáo có cơ hội tiếp tục nuôi cháu ruột, con của em gái bị cáo (hiện đang học lớp 8), cha mẹ cháu bỏ đi khi cháu vừa sinh ra nên bị cáo nuôi cháu từ đó đến nay, cha ruột bị cáo hiện nay lớn tuổi không có việc làm, chỉ trông chờ vào thu nhập làm thuê của bị cáo, hiện nay đang ở nhà thuê, rất khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về áp dụng pháp luật: Căn cứ quy định của Điều 3; điểm b, c khoản 1 Điều 4 của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, đối chiếu Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 với Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 thì không có quy định có lợi cho người phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước 00 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 nên Hội đồng xét áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai các bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào khoảng 11 giờ ngày 30/10/2024, tại địa chỉ số A N, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo Huỳnh Thanh T đã có hành vi tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Phỏm” 09 lá cùng với Lê L, Lê Hữu P, Nguyễn Ngọc T1 với số tiền đánh bạc là 1.090.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng). Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPVPHC ngày 30/5/2024 của Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nay lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Thanh T đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số 80/CT-VKS-KV7 ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi đánh bạc của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh nhiều tội phạm khác, đồng thời còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Do đó, việc xử lý bằng biện pháp hình sự đối với bị cáo là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với hành vi phạm tội của bị cáo thì cần thiết phải có một mức án nghiêm khắc như mức án mà Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị để đảm bảo được tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc cho hoàn cảnh của bị cáo: Bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, đang phải nuôi cha ruột và cháu ruột nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng như thể hiện tính nhân đạo của P1.
Về hình phạt bổ sung: quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không có.
Về xử lý vật chứng:
Đối với tiền Việt Nam 1.090.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng), là tiền sử dụng để đánh bạc, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) bộ bài Tây 52 lá, sử dụng để đánh bạc là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu huỷ.
Vấn đề khác: Đối với hành vi tham gia đánh bạc của Lê Hữu P, Nguyễn Ngọc T1, Lê L tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng; chưa có tiền án tiền sự về hành vi được quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Do đó, chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 3; điểm b, c khoản 1 Điều 4 của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 9 (chín) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tính kể ngày tuyên án.
Giao bị cáo Huỳnh Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể ra quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 1.090.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng).
Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) bộ bài Tây 52 lá.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 201/PNK ngày 18/4/2025 và Giấy nộp tiền ngày 25/3/2025 tại Ngân hàng TMCP C của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H).
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[6] Nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
(Chủ toạ đã giải thích chế định án treo)
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND Khu vực 7 – TP.HCM; - Cơ quan Thi hành án Dân sự; - CQĐT Công an TP.HCM; - Phòng PV06, Công an TP.HCM; - THA Hình sự; - Ủy ban nhân dân phường An Hội Tây, Thành phố Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu L THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |