vanban.org

Bản án 221/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thúy H. Cho bà Đỗ Thúy H được ly hôn với ông Võ Viết T. Về con chung: Ông Võ Viết T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Minh Đ, sinh ngày 19/01/2014 và Võ Minh L, sinh ngày 12/02/2019 đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Bà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồng - Thanh"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:221/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2026
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi
con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hà Huy Phong.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Đặng Văn Tâm và ông Tô Ngọc Liêm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 383/2026/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2026 tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 220/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thúy H, sinh năm 1988; số căn cước: xxxxxxxxxxxx do Bộ C cấp ngày 25/02/2025; địa chỉ: tổ D, ấp L, xã L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: tổ B, ấp A, xã H, tỉnh An Giang, (có đơn xin xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Võ Viết T, sinh năm: 1978; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: tổ D, ấp L, xã L, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thúy H trình bày: Bà quen biết với ông Võ Viết T, cả hai do mai mối, tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh An Giang vào ngày 30/11/2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng, bất đồng quan điểm thường xuyên cự cãi không thể hàn gắn, sống ly thân cho đến nay. Nay thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin ly hôn với ông T.

Về con chung: có 03 con chung tên Võ Ngọc P, sinh ngày 01/7/2007; Võ Minh Đ, sinh ngày 19/01/2014 và Võ Minh L, sinh ngày 12/02/2019; cháu P1 đã thành niên và có khả năng lao động, không đề cập; cháu Đ, cháu L hiện đang sống cùng ông T. Khi ly hôn, bà H đồng ý để ông T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu. Bà H không cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp:

Tờ tự khai và đơn khởi kiện ngày 23/4/2026; Trích lục kết hôn số 974/2026/TLKH-BS ngày 16/4/2026.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để động viên bà H, ông T xóa bỏ những bất đồng quan điểm, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông T; ông T được triệu tập nhưng đều vắng mặt, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật. Tại bản thông tin xác nhận nơi cư trú được đại diện Công an xã L cung cấp thông tin ông T vẫn còn đăng ký cư trú tại ấp L, xã L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà H có đơn xin xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông T; về con chung đồng ý giao 02 con chung cháu Đ, L cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; Bà H không cấp dưỡng nuôi con. Ông T vắng mặt nên Tòa án không thể hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án: Bà H và ông T tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh An Giang vào ngày 30/11/2012; do đó, có căn cứ xác định hôn nhân của ông, bà là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên không tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông T. Phía ông T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà H, ông T là hoàn toàn tự nguyện và đã có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, được xem là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ, mâu thuẫn giữa bà H, ông T xuất phát do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên không tìm được tiếng nói chung. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ, phù hợp với quy định theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: có 03 con chung tên Võ Ngọc P, sinh ngày 01/7/2007; Võ Minh Đ, sinh ngày 19/01/2014 và Võ Minh L, sinh ngày 12/02/2019; cháu P1 đã thành niên và có khả năng lao động, không đề cập; cháu Đ, cháu L hiện đang sống cùng ông T phát triển ổn định về thể chất, tinh thần. Khi ly hôn, bà H đồng ý để ông T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu và tại biên bản ghi nhận ý kiến 02 cháu có nguyện vọng sống cùng cha. Vì vậy, cần ổn định cuộc sống của các cháu, tiếp tục giao các cháu cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không đề cập giải quyết.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề xuất:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thúy H đối với ông Võ Viết T.

- Giao 02 cháu Võ Minh Đ, sinh ngày 19/01/2014 và Võ Minh L, sinh ngày 12/02/2019 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Đỗ Thúy H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Viết T, được xác định là tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn Võ Viết T có nơi cư trú tại địa bàn xã L, tỉnh An Giang.Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – An Giang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Về tính hợp pháp: Bà H, ông T do mai mối và tiến đến hôn nhân, không ai lừa dối hay ép buộc; có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh An Giang thuộc trường hợp hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.

Về tình trạng hôn nhân:

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn và ly thân cho đến nay; bà H yêu cầu ly hôn, ông T không phản hồi, không có mặt. Bà H xác định không còn tình cảm với ông T và kiên quyết xin được ly hôn; Với những căn cứ trên, có cơ sở xác định hôn nhân giữa bà H, ông T phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của bà H xin ly hôn với ông T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 03 con chung tên Võ Ngọc P, sinh ngày 01/7/2007; Võ Minh Đ, sinh ngày 19/01/2014 và Võ Minh L, sinh ngày 12/02/2019; cháu P1 đã thành niên và có khả năng lao động, không đề cập; cháu Đ, cháu L hiện đang sống cùng ông T phát triển ổn định về thể chất, tinh thần. Khi ly hôn, bà H đồng ý để ông T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu. Xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ khi bà H, ông T ly thân, các cháu sống với ông T vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Mặt khác, các cháu có nguyện vọng sống chung với cha. Để ổn định cho cuộc sống của cháu, nên để ông T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cháu; bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập;

Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Ông T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thúy H. Cho bà Đỗ Thúy H được ly hôn với ông Võ Viết T.

2. Về con chung: Ông Võ Viết T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Minh Đ, sinh ngày 19/01/2014 và Võ Minh L, sinh ngày 12/02/2019 đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Bà Đỗ Thúy H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Võ Viết T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Đỗ Thúy H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Võ Minh Đ, sinh ngày 19/01/2014 và Võ Minh L, sinh ngày 12/02/2019.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đỗ Thúy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số 305824 ngày 23 tháng4 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang; Bà H đã nộp xong.

Ông Võ Viết T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thúy H, ông Võ Viết T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ