vanban.org

Bản án 221/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Văn K (Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Huỳnh Xuân H, sinh ngày 05/4/1983; Nguyễn Huỳnh Minh T, sinh ngày 08/6/1968 và Nguyễn Nhật T, sinh ngày 25/10/1995. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa bà Huỳnh Thị X và ông Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Văn K (Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 221/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 3 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Duy Bảo Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1339/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2025/QĐST - HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1960; địa chỉ: Số 354/19 đường N, Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 354/19 đường N, Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 8 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị X trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn K chung sống với nhau vào năm 1982 trên cơ sở tự nguyện; đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01.82 ngày 02/9/1982. Quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên đã sống ly thân từ năm 2004. Nay bà xác định vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn không thể hàn gắn, đề nghị Toà giải quyết cho bà được ly hôn với ông Khỏe.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Huỳnh Xuân H, sinh ngày 05/4/1983; Nguyễn Huỳnh Minh T, sinh ngày 08/6/1988 và Nguyễn Nhật T, sinh ngày 25/10/1995.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo; đồng thời vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ: “Ly hôn”. Do bị đơn cư trú tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37, quyển số 01.82 do Uỷ ban nhân dân Phường 07, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/9/1982, xác định hôn nhân giữa ông K và bà X là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân bà X xin ly hôn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên đã sống ly thân. Xét thấy, thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đã lâu nhưng cả hai không có hướng khắc phục, giải quyết, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa đã triệu tập các bên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng ông K vẫn không đến Tòa để giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc trong cuộc sống vợ chồng, như vậy chứng tỏ ông K không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên không có thiện chí muốn hàn gắn lại quan hệ vợ chồng. Tuy kết quả xác minh tại địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn nhưng từ những phân tích trên cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa bà X và ông K hoàn toàn không hạnh phúc, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của bà X là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Huỳnh Xuân H, sinh ngày 05/4/1983; Nguyễn Huỳnh Minh T, sinh ngày 08/6/1988 và Nguyễn Nhật T, sinh ngày 25/10/1995.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 51, 54, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Văn K (Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01.82 do Uỷ ban nhân dân Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/9/1982 hết hiệu lực pháp luật).

2. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Huỳnh Xuân H, sinh ngày 05/4/1983; Nguyễn Huỳnh Minh T, sinh ngày 08/6/1968 và Nguyễn Nhật T, sinh ngày 25/10/1995.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị X thuộc trường hợp miễn nộp án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền được thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Cỡ chữ